• Thứ Hai, 28/11/2005 09:51 (GMT+7)

    Thị trường ĐTDĐ và điện tử 6 tháng đầu năm 2005: Phát triển nhanh chóng

    Theo số liệu chnh thức của GFK Việt Nam, nửa đầu 2005, thị trường bn lẻ ĐTDĐ tại Việt Nam đ đạt 270,8 triệu USD, hđng điện tử đạt 218,7 triệu USD vđ cc sản phẩm IT (cĩng nghệ cao) đạt 142,1 triệu USD. GFK Việt Nam cũng dự bo thị trường bn lẻ hđng điện tử vđ cĩng nghệ cho cả năm 2005 lđ 1,891 tỷ USD, tăng 33,1% so với năm 2005.

    Hơn một triệu ĐTDĐ

    Trong nửa đầu năm 2005 thị trường ĐTDĐ Việt Nam vẫn tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ so với cả nửa đầu và nửa cuối năm 2004. Theo nghiên cứu của GFK, số lượng máy bán ra đã đạt 1,17 triệu chiếc, tăng 101%, gần bằng tốc độ tăng trưởng cùng kỳ năm ngoái khi mỗi tháng số ĐTDĐ bán ra thị trường hơn 200.000 chiếc. Hai hãng dẫn đầu là Nokia và Samsung hiện đang chiếm 75% thị trường thiết bị đầu cuối tại Việt Nam, họ cũng là 2 nhãn hiệu giới thiệu nhiều sản phẩm mới nhất. Sự trở lại của Motorola là tin vui với người tiêu dùng, ngay lập tức nhà sản xuất lớn thứ 2 thế giới này tung ra các sản phẩm thời trang và smartphone tuyệt vời, điều này cũng đồng nghĩa với việc họ đứng vào nhóm 3 hãng lớn nhất trên thị trường sau Nokia và Samsung, 2 hãng còn lại là Sony Ericsson và Siemens. Thị phần của các hãng khác không đáng kể. Có đến 97,5% máy ĐTDĐ bán ra đều thông qua các cửa hàng: 80% máy được bán tại các cửa hàng độc lập, 20% từ cửa hàng của các nhà phân phối chính thức. Các siêu thị ĐTDĐ cũng thu hút được lượng lớn khách hàng.

    Trong khi đó, ở phía các nhà khai thác dịch vụ đường truyền, sự kiện Viettel cung cấp dịch vụ và nhanh chóng đạt số lượng thuê bao 1 triệu (có thể đạt 1,5 triệu thuê bao cuối 2005) đã tác động rất lớn đến sự phát triển của thị trường ĐTDĐ Việt Nam. Vinaphone, chiếm 43% tổng số thuê bao, nhưng họ đã phải chia sẻ 10% thị phần cho Mobifone và Viettel vào thời điểm cuối năm ngoái, họ cũng hy vọng đạt được 3,5 triệu thuê bao tính đến thời điểm cuối năm nay. Mobifone tiếp tục công bố các dịch vụ tiện ích và nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn, hiện có khoảng 2,9 triệu thuê bao và mục tiêu là sẽ qua mặt Vinaphone vào cuối năm nay. Sau hai năm thương mại hoá, nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ CDMA đầu tiên của Việt Nam – S-Fone cũng đã đạt 300.000 thuê bao. Hai nhà khai thác chưa triển khai dịch vụ CDMA VP-Telecom và Hanoi-Telecom. Tính đến tháng 6/2005 Việt Nam đã có khoảng 7 triệu thuê bao ĐTDĐ tăng 55% so với thời điểm cuối năm ngoái đạt 4,5 triệu thuê bao.

    GFK đánh giá thị trường ĐTDĐ Việt Nam đã phát triển một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, theo số liệu của GFK thì có vẻ như tốc độ phát triển đã chậm lại. Số lượng máy bán ra năm 2004 tăng 80% so với năm 2003, trong khi năm 2005 dự đoán mức độ tăng trưởng khoảng 67%. GFK cũng cho biết tổng số lượng máy ĐTDĐ trên thị trường so với tổng dân số trong năm 2004 là 6%, năm 2005 là 10%. Dự đoán năm 2006 khi thị trường bán được khoảng 4,5 triệu máy mới thì con số này là 12%. (Biểu đồ 1)

    Hàng điện tử gia dụng: 76% thị phần thuộc về ti-vi CRT

    Theo GFK hàng điện tử gia dụng (Consunmer Electronics – CE) bao gồm ti-vi CRT, đầu VCD, DVD, Camcorder & Projection TV (PTV), hệ thống âm thanh gia đình (Audio Home System - AHS), Radio Recorder/Player (RRP), máy nghe nhạc sử dụng đĩa (Audio Disc Player - ADP) và máy quay video số (CAM), trong nửa đầu năm 2005, 76% thị phần của các sản phẩm này thuộc về ti-vi CRT, so với 80% cùng kỳ năm ngoái. Tiếp theo đó là đầu DVD chiếm 12%, các sản phẩm còn lại chỉ chiếm từ 4% trở xuống. Tổng giá trị thị trường các sản phẩm CE 6 tháng đầu năm 2005 đạt 3.045 tỷ đồng, tăng gần 11% so với cùng kỳ năm ngoái.

    Giống như năm ngoái, Sony vẫn là nhãn hiệu hàng đầu, chiếm 24,6% thị phần trong nửa đầu năm 2005, LG và Samsung giữ các vị trí tiếp theo. Panasonic giữ 11% thị trường, còn JVC chiếm 7%, cả hai nhãn hiệu này đều đã đạt được mức tăng trưởng nhất định so với năm 2004.

    TP.HCM và Hà Nội là hai địa phương nắm giữ 40% thị phần hàng CE, tiếp theo đó là vùng Đông Bắc Bộ, Đồng Bằng sông Cửu Long và Bắc Trung Bộ, đây là những khu vực có tốc độ phát triển kinh tế cao.

    Kiến Thụỵ
    (theo nghiên cứu của GFK)

    ID: A0511_149