• Chủ Nhật, 17/04/2011 11:02 (GMT+7)

    Công nghệ phục vụ ép xung

    Nguyễn Thúc Hoàng Linh
    Vài năm trước đây, việc ép xung dường như là một thú vui xa xỉ của những “tay chơi” máy tính. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất kịch liệt phản đối và liên tục khuyến cáo người dùng không nên thực hiện điều này để đảm bảo tuổi thọ cũng như độ an toàn cho thiết bị.

     

    Tuy vậy, vào thời điểm hiện nay, để tìm được một sản phẩm dán nhãn cấm ép xung có lẽ còn khó hơn... lên trời! Ép xung đã trở thành “một phần tất yếu của cuộc sống (số)” chăng?

    Bộ xử lý chuyên cho ép xung

    Một dấu hiệu dễ nhận thấy nhất của xu hướng các nhà sản xuất đang sử dụng việc ép xung cho thế hệ phần cứng mới chính là ở thị trường các bộ vi xử lý. Nếu như Intel cách đây vài năm phản đối việc ép xung chip thì những phiên bản sản phẩm mới của họ, những mẫu được định danh là sản phẩm nhóm “hiệu năng cao” như Core i7 875K hay 2600K đều có những đặc tính phục vụ cho việc ép xung như không khóa hệ số nhân, điện năng vận hành thấp, tản nhiệt hầm hố hơn (điển hình là mẫu Intel XTS100H). Tương tự, AMD cũng có phiên bản Black Edition của các chip Phenom với hệ số nhân không khóa nhưng lại… không đi kèm tản nhiệt. Điều này mới nghe có thể lạ lùng nhưng thực tế lại rất hợp lý bởi hầu hết các tay chơi ép xung đều tìm tới các giải pháp tản nhiệt riêng của họ thay vì trông cậy vào những gì nhà sản xuất chip “tặng kèm”.

    Bo mạch chủ với nhiều công nghệ hỗ trợ ép xung

    Song song với các bộ xử lý, những dòng bo mạch chủ mới cũng không bỏ lỡ cơ hội thể hiện khả năng ép xung. Cách đây vài năm, DFI và Abit đã từng cố gắng khởi động trào lưu ép xung nhưng chưa thực sự thành công. Giờ đây thì sao? Hãy thử lấy một ví dụ nhỏ với mẫu MSI 890FXA-GD70 mới. Ngay trên vỏ hộp, bạn có thể thấy ba công nghệ đặc trưng được quảng bá và cả ba công nghệ này đều ít nhiều dính dáng tới ép xung: OC Genie – ép xung tự động, Hi-C Cap – tụ rắn lõi Tantalum chịu nhiệt cao (một yếu tố quan trọng với ép xung) và hệ thống điện nguồn DrMOS cấp cho bộ xử lý trung tâm nhằm đảm bảo dòng điện ổn định và đủ mạnh – cũng là thứ hết sức cần thiết cho tăng xung nhịp chip (do sẽ yêu cầu nhiều điện hơn).

    Không chỉ riêng một sản phẩm cụ thể nào, bạn chỉ cần điểm qua các mẫu bo mạch chủ thời thượng hiện nay đều có thể thấy hầu hết đều có các tính năng dính dáng tới ép xung như hệ thống tản nhiệt khủng với ống dẫn nhiệt, thậm chí một số mẫu còn có đường thoát khí phụ để hạn chế tối đa ảnh hưởng tới bộ vi xử lý, một vài biến thể của tính năng ép xung tự động… Thậm chí, một số bo mạch còn có riêng các điểm mạch thiết kế sẵn dành cho những tay chơi ép xung sử dụng đồng hồ đo thuận tiện hơn, công tắc ép xung (MSI OC Switch, ASUS Turbo Key…) hoặc BIOS với mục riêng dành cho việc thay đổi xung nhịp, điện thế. Nói một cách khác, nếu bạn có thể tìm được một mẫu bo mạch chủ nào không hề có quảng bá liên quan tới ép xung thì đó là của... hiếm hiện nay. Ngược lại, những dòng bo mạch chủ “đỉnh” dành cho ép xung có thể thấy ở khắp nơi như Maximus/Sabertooth của ASUS, BigBang của MSI hay Xtreme của ASRock…

     

    Nguồn điện và thùng máy

    Nếu như trước đây, bộ nguồn chỉ có nhiệm vụ cấp điện đủ cho hệ thống thì giờ đây chúng còn phải đảm đương thêm trọng trách đáp ứng được cả những gì mà hệ thống “cần”. Đồng hồ theo dõi công suất vận hành, cường độ dòng điện cao, khả năng chịu tải và xung tốt, quạt làm mát cỡ lớn… cho mục đích gì? Ép xung có thể là câu trả lời “hợp lý” nhất. Một vòng lượn qua các cửa hàng linh kiện máy tính, bạn sẽ thấy ít nhiều các lời tư vấn đều có liên quan tới ép xung máy tính. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất đều có những dải sản phẩm nguồn riêng cho ép xung như Thermaltake với GrandPower, Seasonic với X-Series, Antec với dòng High Current Pro… Dĩ nhiên, một bộ nguồn tốt với công suất cao là cần thiết cho hệ thống máy tính (đặc biệt các dòng máy cấu hình cao) nhưng rõ ràng các công nghệ mới đang góp phần quan trọng cổ vũ cho cuộc chơi ép xung.

    Thùng máy cũng không ngoại lệ. Trong khi công nghệ giúp máy tính mới ngày càng tiết kiệm điện và vận hành mát mẻ hơn thì thùng máy ngày càng… khủng. Ngay cả những thùng máy phổ thông hiện cũng có ít nhất 2-3 vị trí lắp quạt (đôi khi hỗ trợ cả chục vị trí lắp quạt kích thước tới 120-140mm thay vì trung bình 80mm như vài năm trước đây) hay thậm chí những lỗ gia công sẵn cho các đường ống của tản nhiệt nước. Một số thùng máy cao cấp còn có các khoang bo mạch chủ và nguồn có kích thước lớn hoặc cho phép tháo lắp nhanh.

    Công cụ phần mềm có mặt mọi nơi

    Song song với các giải pháp phần cứng, vô số các giải pháp hỗ trợ ép xung“mềm” cũng được giới thiệu ở quy mô rộng lớn hơn. Ở mức độ cơ bản, hầu hết các sản phẩm bo mạch chủ hay card đồ họa mới đều có những tiện ích cho phép người dùng kiểm soát nhiệt độ, các đường điện, quạt… Dĩ nhiên, chúng cũng giúp cho người dùng thông thường (chiếm đa số) có thể theo dõi hệ thống tốt hơn. Hãy thử nghĩ xem, một nhân viên văn phòng, một sinh viên hay đơn thuần là người nội trợ liệu có mấy khi quan tâm đường +12v trên máy tính của mình hiện đang có giá trị là bao nhiêu hay quạt chipset quay mấy ngàn vòng/phút... Tuy vậy, những cái tên về các tiện ích liên quan đến quản lý điện năng, điều chỉnh xung nhịp vi xử lý, nâng các thông số hệ thống dường như đã quá quen thuộc với người dùng máy tính do có mặt trên hầu hết các dải sản phẩm của các hãng. Thậm chí, một số “món” vốn chỉ thông dụng với dân chơi ép xung như 3D Mark, PC Mark, Furmark, Rivatuner giờ đây cũng được các nhà sản xuất tặng kèm sản phẩm phần cứng.

     

    Tận dụng xu hướng mới

    Thực tế, khó có thể khẳng định là xu hướng mới này của các nhà sản xuất là tốt hay xấu. Ở góc độ tích cực, sự hiện diện của các tính năng mới ngoài việc mở cho những người dùng thông thường một cơ hội trải nghiệm hiệu năng xử lý cao hơn những so với khoản tiền họ đã chi. Lấy điển hình như với bo mạch chủ, các loại tụ điện rắn thường có tuổi thọ cao hơn nhiều lần (đôi khi vượt ngưỡng 100.000 giờ liên tục) trong khi các hệ thống điện cao cấp sẽ đảm bảo tuổi thọ và sự ổn định cho bộ vi xử lý, RAM và card đồ họa trong khi giải quyết các tác vụ nặng nề. Trong khi đó, tản nhiệt RAM hay quạt lớn hơn cho card đồ họa đều sẽ đảm bảo nhiệt độ vận hành của hệ thống ở mức thấp – kể cả trong các tình huống vận hành thông thường (không ép xung). Ngay với CPU, so sánh mẫu 2600K và 2600 của dòng Core i7 cũng cho thấy hệ thống đồ họa của i7 2600K trội hơn chút ít. Đây rõ ràng đều là những điều mà người dùng mong muốn và đôi khi là thực sự cần tới. Tuy nhiên, chi phí đội thêm cho những “món” này thường trội thêm khá nhiều. Ví dụ như khi chọn i7 2600K, bạn sẽ phải chi thêm khoảng 30 USD so với 2600 thông thường và việc này không phải ai cũng chấp nhận được.

    Tóm lại, những tính năng đã điểm qua đều có giá trị sử dụng nhất định cho dù bạn thuộc nhóm người dùng nào. Hãy xem xét độ “nặng” của túi tiền để bạn có thể lựa chọn chi phí phù hợp. Ngoài ra, khi chọn lựa, hãy ưu tiên những tính năng mà bạn sẽ thực sự cần đến thay vì theo đuổi những quảng bá phù phiếm. Tụ điện rắn có thể đem lại cho bạn hiệu quả thiết thực trong khi các nút vặn chỉnh xung nhịp hay điểm đo điện thường chẳng bao giờ dùng tới trừ khi bạn là một tay chơi ép xung ngày đêm... cắm mặt bên bo mạch chủ.

    ID: A1103_126