• Thứ Ba, 16/12/2003 14:58 (GMT+7)

    .NET Server 2003 - hy vọng của Microsoft

        Thị trường hệ điều hành máy chủ tầm trung và cao cấp là đích nhắm của Microsoft sau khi thống lĩnh thị trường HĐH máy tính để bàn. Với việc đưa ra Windows .NET Server 2003, bản nâng cấp từ Windows 2000 Server, Microsoft hy vọng sẽ bỏ lại phía sau các đối thủ của mình.

        Net Server 2003 được quảng cáo là nền tảng chứ không chỉ đơn thuần là hệ điều hành (HĐH) và theo Microsoft thì đây là sản phẩm có tính ổn định, bảo mật và nhanh hơn so với các phiên bản trước, được xây dựng từ những yêu cầu của người dùng Windows Server. Có 3 phiên bản .NET Server 2003: Standard Edition (bản chuẩn), Enterprise Edition (bản dành cho doanh nghiệp) và Datacenter Edition (bản dành cho hệ thống dữ liệu). Theo Microsoft thì cả 3 bản đều được thiết kế cho môi trường doanh nghiệp và không hề có sự phân biệt nào về qui mô của doanh nghiệp. Tuy nhiên bản Standard Edition có vẻ thích hợp với doanh nghiệp có dưới 1000 nhân viên, Enterprise Edition phù hợp với các doanh nghiệp lớn hơn, còn bản Datacenter Server dành cho những hệ thống cung cấp dịch vụ Internet và các công ty rất lớn. Còn một sản phẩm riêng dành cho những doanh nghiệp nhỏ không quá 50 nhân viên, được gọi là Microsoft Small Bussiness Server nhưng ngày phát hành chưa được công bố vào thời điểm viết bài này.

        Nhìn chung, Microsoft đã tạo ra được một nền tảng hòa nhập mọi khía cạnh của mạng và hoạt động của máy chủ, bao gồm việc kết hợp với Microsoft Active Directory chặt chẽ hơn, bảo mật và quản lí bảo mật được cải tiến đáng kể, tính ổn định và khả thi cao hơn, hiệu suất được cải tiến, Windows Media Services được chỉnh sửa và phiên bản mới của Internet Information Services (IIS 6.0). Để làm được điều này, Microsoft đã chỉnh sửa hoặc viết lại hoàn toàn mã nguồn của HĐH. Windows .NET Server 2003 đã được thiết kế để biến Internet trở thành một công cụ bằng cách tích hợp chặt chẽ với các ứng dụng và khung phát triển của Microsoft .NET.      Khi được đưa ra cùng với Windows 2000 Server,

    Active Directory (Ad)


        Khi được đưa ra cùng với Windows 2000 Server, AD có một vài điểm yếu. Ví dụ, việc đăng nhập vào hệ thống của người dùng đòi hỏi máy chủ quản lý miền (DC - Domain Controller) liên lạc với máy chủ chứa danh sách toàn cục (GCS - Global Catalog Server), tiếp theo tìm kiếm phân vùng thư mục miền để xác thực. Tiến trình này đòi hỏi việc xử lí mạng tập trung và ở Windows 2000 Server nếu như không liên kết được với GCS thì quá trình sẽ không thể thực hiện được. .NET Server 2003 giải quyết vấn đề này bằng cách lưu đệm toàn bộ quan hệ nhóm của người dùng trong DC ở lần đăng nhập đầu. Những lần đăng nhập tiếp sau sẽ xác thực bằng thông tin lưu trữ trong vùng nhớ đệm (cache) của DC thay vì phải duy trì kết nối tới GCS

        Một cải tiến khác là khả năng dùng tập tin sao lưu, thay thế cho GCS, cung cấp dữ liệu cho việc sao lưu ban đầu để tạo một DC mới. Điều này thực sự hữu ích khi đường kết nối của bạn tới GCS không nhanh, tiết kiệm được thời gian trong các tình huống phục hồi sự cố.

        Môi trường làm việc hiện nay luôn biến động, nên khả năng thay đổi tên miền hệ thống là một cải tiến được đánh giá cao. Trước đây để làm được điều này, bạn phải cài đặt lại hoàn toàn hệ thống. Bây giờ, mọi tên miền trong cùng 'forest' (khái niệm chỉ một nhóm các miền có cùng thiết lập) hoặc trong forest gốc đều có thể đổi tên, tuy nhiên không được thay đổi vai trò của máy chủ forest gốc. Một tiến bộ khác là việc hỗ trợ cho quan hệ tin cậy giữa các forest và sao lưu hiệu quả các thuộc tính đa giá trị của AD ở dạng giá trị đơn. Microsoft cũng hỗ trợ sự phát triển ứng dụng bằng việc mở rộng chuẩn LDAP (Lightweight Directory Access Protocol - giao thức truy cập Active Directory) và đưa thêm các phân vùng ứng dụng vào thư mục.

        Một xu hướng mới được Microsoft sử dụng trong hầu hết các phần của hệ điều hành mới này là thiết lập các công cụ dòng lệnh. Các công cụ truy vấn và cập nhật thư mục như dsadd và dsquery tương tự như ldapadd và ldapquery của Linux. Phương thức truy cập dòng lệnh cho phép truy cập từ xa để điều khiển máy chủ. Có vẻ như Microsoft đang đáp ứng những đòi hỏi của người quản trị về một môi trường nhập lệnh mềm dẻo và có khả năng lập kịch bản thực thi.

    Bảo Mật

        Với Net Server 2003, nâng cao tính bảo mật là vấn đề quan tâm hàng đầu của Microsoft. Điều này liên quan đến lõi của HĐH cũng như trong các dịch vụ đi kèm như IIS. Các phiên bản trước thiết lập IIS mặc định, giờ thì IIS và hơn 20 dịch vụ đi kèm khác được loại bỏ mặc định. Nỗ lực của Microsoft trong việc chấm dứt các lỗ hổng bảo mật được thể hiện rõ trong các chính sách hạn chế phần mềm và điều khiển được thiết lập theo môi trường thực thi riêng biệt.

        Các quyền dịch vụ mạng và cục bộ cũng được nâng cấp và mối nguy cơ tiềm ẩn từ những mật mã trống đã được loại bỏ. Để tăng tính bảo mật cho quá trình đăng nhập hệ thống, Microsoft tạo ra quá trình đăng nhập 2 lớp sử dụng thẻ bảo mật thông minh. Tính năng này khai thác kiến trúc hạ tầng khoá công cộng tích hợp, đây là điểm mới trong môi trường HĐH máy chủ của Microsoft.

        .Net Server 2003 cung cấp quá trình tự động kết nạp người dùng dựa trên thiết lập chính sách nhóm. Với các phiên bản  trước, quá trình này được dùng cho các máy tính trong mạng chứ không phải với người dùng. Việc quản lí chứng thực người dùng và thiết lập quá trình tự động kết nạp được thực hiện trong Microsoft Management Console.

    Ổn Định

        . Net Server 2003 có nhiều cải tiến nhằm nâng cao khả năng hoạt động và ổn định của hệ thống. Cải tiến đáng kể nhất là nâng cao khả năng quản lí lỗi. Hỗ trợ bổ sung nóng bộ nhớ hệ thống nếu phần cứng cho phép. Các khối nhớ có thể ánh xạ, cho phép khắc phục lỗi nếu có vùng nhớ bị lỗi. Các khe PCI cũng hỗ trợ cắm nóng, cho phép người quản trị có thể gắn thêm hoặc gỡ bỏ card mà không cần tắt hệ thống.

    Một cảI tiến khác là khả năng đa đường I/O (vào/ra) cho hệ thống lưu trữ phụ. Đa đường I/O là tính năng của mạng cho phép phân luồng truy cập một thiết bị lưu trữ với hơn một đường vật lí. Khả năng này có thể được áp dụng cho cơ chế quản lý lỗi hoặc cân bằng tải, tăng khả năng đáp ứng của mạng.

    Cấu Hình Và Quản Trị

        Giao diện đồ họa người dùng (GUI) vốn là bản chất của Microsoft, tính dễ sử dụng là một tiêu chí ưu tiên trong quá trình phát triển sản phẩm của công ty.        

        .NET Server 2003 cũng không là ngoại lệ, Microsoft cố gắng đạt được sự cân bằng trong việc đơn giản hoá các công cụ thiết lập và khả năng lập kịch bản cũng như các thiết lập kiểu nhập lệnh.

        Các công cụ quản lí đồ hoạ - cải tiến dễ thấy nhất của hệ thống - bao gồm hai ứng dụng hay: Manage Your Server và Config Your Server. Sau khi cài đặt HĐH, hầu hết các dịch vụ đều chưa được kích hoạt, bao gồm các dịch vụ liên quan đến IIS, chia sẻ tập tin và máy in, DHCP, email, truy cập từ xa và các dịch vụ quản lí miền (bao gồm Active Directory) và một số dịch vụ khác.

        Những dịch vụ này có thể được kích hoạt bằng Config Your Server tích hợp trong phần thiết lập cấu hình của Manage Your Server mà bạn sẽ gặp trong lần khởi động lại đầu tiên. Một khi đã được kích hoạt, các ứng dụng tương ứng có hiệu lực và có thể điều chỉnh trong Manage Your Server. Config Your Server có thể được chạy như một công cụ riêng biệt trong menu Administrator Tools.

        Các chức năng Software Update Service và Auto Update của .NET Server 2003 có thể thực hiện trực tiếp qua máy chủ của Microsoft trên Internet, hoặc thông qua các máy chủ dịch vụ trong mạng cục bộ. Người quản trị có thể thiết lập các máy con cập nhật tự động thông qua chính sách nhóm (GP - Group Policy) khi bản sửa lỗi có hiệu lực mà không cần sự can thiệp của người dùng. Group Policy Management Console (GPMC) là một bước tiến đáng kể trong nỗ lực đơn giản việc quản lí GP, đây là công cụ quản trị mới gồm một tập các giao tiếp có thể lập kịch bản (Visual Basic). GPMC sẽ được đưa ra sau .NET Server 2003.      

    Dịch Vụ

        Trong số những thay đổi về dịch vụ và ứng dụng tích hợp như các dịch vụ đầu cuối và truy cập từ xa thì những thay đổi trong lõi của hai dịch vụ chia sẻ tập tin và IIS 6.0 là nổi bật hơn cả.

        Khái niệm cơ bản về chia sẻ tập tin trong Windows vẫn chưa được đề cập tới. Nhưng có một tính năng mới đáng giá dành cho  người quản trị và người dùng có kinh nghiệm: Volume Shadow Copy cho phép tạo nhanh bản sao chỉ đọc của toàn bộ đĩa (ảnh đĩa). Với người dùng cuối, điều này có nghĩa là có thể phục hồi dữ liệu đã mất mà không cần phải liên hệ với người quản trị để yêu cầu những bản sao lưu từ đĩa từ, một quá trình tốn thời gian và rắc rối. Khác với cơ chế kiểm soát phiên bản (version control), Volum Shadow Copy không lưu tức thời các phiên bản tập tin mà chỉ lưu toàn bộ đĩa vào thời điểm do người quản trị ấn định, nó có thể lưu giữ 64 bản sao của ổ đĩa.

        Thêm các tiện ích dòng lệnh có thể lập kịch bản cho ứng dụng chia sẻ tập tin. Giờ đây bạn có thể tự thao tác tạo ổ đĩa và các phân vùng hoặc thêm và huỷ bỏ các thiết lập ánh xạ, và một số chức năng khác.

        Tuy nhiên những thay đổi về chia sẻ tập tin không ấn tượng bằng những thay đổi trong IIS 6.0. Thay đổi quan trọng nhất là việc chia IIS ra thành 3 tiến trình riêng biệt. Khác với IIS 5.1 dùng inetinfo.exe để gửi yêu cầu tới các ứng dụng ngoài tiến trình, IIS 6.0 sử dụng trình hệ thống HTTP.sys, hoạt động như sau: HTTP.sys nghe các yêu cầu và gửi chúng tới các hàng đợi thích hợp. Bên cạnh đó, tồn tại một tập các ứng dụng đáp trả các yêu cầu hàng đợi được ấn định và các tiến trình làm việc. Tới phiên mình, tiến trình làm việc, chứa một bản nạp thư viện WWWservice.dll, kiểm soát toàn bộ tiến trình ứng dụng, bao gồm xác thực và nạp các bộ lọc và phần mở rộng của Internet Server API (ISAPI). Đâu là ưu điểm của kiến trúc này? Các tiến trình làm việc được chạy trên một môi trường riêng biệt nên sự cố nếu có xảy ra sẽ được cách ly, không ảnh hưởng đến các tiến trình khác. Người quản trị có thể giám sát các tiến trình của các ứng dụng riêng biệt và có thể phục hồi các ứng dụng hoặc site mà không phải 'down' máy chủ Web. Máy chủ vẫn làm việc, nó lưu giữ các yêu cầu cho tới khi những ứng dụng hoặc site có vấn đề được phục hồi.

        Một thay đổi quan trọng khác có vẻ quen thuộc với người dùng Apache hoặc các máy chủ Web nền Unix khác là khả năng soạn thảo các tập tin cấu hình. Không như các phiên bản trước lưu trữ các thiết lập máy chủ trong tập tin nhị phân, IIS 6.0 sử dụng các tập tin văn bản định dạng XML. Người quản trị có thể biên soạn các thay đổi cấu hình trong các tập tin văn bản và dùng các tập tin này để triển khai và sao lưu hay phục hồi. Người dùng các phiên bản IIS trước không phải băn khoăn vì các tập tin nhị phân sẽ được nâng cấp trơn tru sang dạng XML.

    Nâng Cấp Lên .Net Server 2003

        Những cải tiến của .Net Server 2003 thật ấn tượng, đặc biệt là tính dễ dùng và khả năng quản lí. Sự thiết lập và kích hoạt trở nên dễ dàng hơn so với những HĐH máy chủ trước đây của Microsoft. Tuy nhiên, dù có các trình trợ giúp nhưng việc thực hiện nhiều tính năng mới làm cho HĐH phức tạp hơn và cũng đòi hỏi một trình độ quản lí mạng cao hơn.

        Với nhiều ưu điểm, .Net Server 2003 hẳn sẽ lôi kéo người dùng nâng cấp lên từ các phiên bản HĐH Windows Server trước. Với Windows NT Server 4.0, đây là quá trình cài đặt mới hoàn toàn. Với Windows 2000 Server hoặc Advanced Server, bạn có thể chọn nâng cấp hoặc cài mới. Nâng cấp từ Windows 2000 Server đơn giản hơn so với Windows NT 4.0 vì có nhiều điểm tương đồng với .NET Server 2003 hơn. Tuy nhiên, tốt hơn người dùng nên chờ cho đến khi Microsoft đưa ra bản Service Pack 1 của HĐH này!

    Trần Thanh Tùng
    Biên dịch và tổng hợp
    tungjohn2002@yahoo.com


    Đối Thủ Của .Net Server: Linux

        Có lẽ đối thủ chính của .Net Server là Linux. Theo số liệu của IDC, năm 2001 Microsoft chiếm 50% thị phần HĐH máy chủ toàn cầu, Linux chiếm 25%, NetWare và Unix cùng chiếm 11%, các HĐH khác chiếm 2%.

        Có trên 250 nhà phân phối Linux khác nhau, theo một nghiên cứu gần đây của Gartner Research. Trong đó, 4 nhà phân phối lớn nhất là Red Hat, SCO (trước đây là Caldera), SuSE và Turbolinux. SuSE và Red Hat thích hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. SCO và Turbolinux phù hợp hơn với các doanh nghiệp trung bình và lớn.

        Có vẽ như hiện đang là thời điểm phát triển của mã nguồn mở trong thế giới máy chủ. Hiện có nhiều công ty máy tính lớn và quốc gia đầu tư nghiên cứu Linux. Các yếu tố quan trọng hàng đầu của một HĐH là tính đơn giản, tin cậy, hoạt động tốt trên mọi phần cứng và chi phí đầu tư thấp. Linux vẫn giữ được các đặc tính này qua các phiên bản lõi (kenel), thêm vào đó là sự xuất hiện của nhiều phần mềm thương mại và miễn phí viết cho Linux.

        Microsoft, .NET Server 2003 có nhiều cải tiến, trong khi đó đối thủ Linux cũng từng bước lớn mạnh.

        Tuy nhiên không thể nói rằng Linux là hoàn hảo. Linux vẫn là HĐH dành cho những người có kiến thức hệ thống. Các nhà sản xuất đã tạo nên những bản Linux có giao diện đồ hoạ dễ dùng nhưng sâu bên trong nó vẫn đòi hỏi ở ngườI dùng kiến thức về mạng cũng như kinh nghiệm sử dụng.

        Còn có những yếu tố khác đã ngăn cản sự phổ biến của Linux. Người ta vẫn cho rằng không có một tổ chức chung nhất  kiểm soát  sự phát triển của Linux. Điều này không đúng. Tuy ai cũng có thể thay đổi hoặc thêm vào mã nguồn của Linux, nhưng những thay đổi phiên bản nhân Linux phải được sự chấp thuận của Linux Torvalds và các đại diện khác của cộng đồng mã nguồn mở. Tính mở của Linux cũng ngăn cản việc phát triển các phiên bản Linux thống nhất.

        Bên cạnh đó, những tổ chức muốn dùng mã nguồn mở còn gặp phải một vấn đề khác đó là sự thiếu hỗ trợ cho kiến trúc hạ tầng. Có sự chênh lệch lớn về số lượng nhà quản trị mạng Windows so với Linux hoặc Unix. Điều này cũng đúng với hệ thống phân phối. Thiết lập một hạ tầng dựa hoàn toàn trên nền Linux vẫn là một thử thách thực sự.

        Cả .Net Server 2003 và Linux đều không phải là sự lực chọn duy nhất cho một công ty hay một tổ chức, có rất nhiều các yếu tố để cân nhắc lựa chọn khác nhau. Nếu tổ chức của bạn có nhiều kinh nghiệm về Linux và muốn nhảy ra khỏi con tàu Microsoft để chủ động toàn quyền điều khiển hệ thống máy chủ thì hãy lựa chọn Linux. Còn ngược lại, bạn hãy tạm bằng lòng với những gì mà Microsoft cung cấp.Al Gillen,

    Windows Server 2003 theo nhận định của Sun, HP và IBM

        HĐH Windows Server trước nay vẫn  được cho là chỉ thích hợp với môi trường cấp thấp, chủ yếu thực hiện các chức năng về file và in ấn. Microsoft hy vọng Windows Server 2003 sẽ làm thay đổi nhận thức này của người dùng. Giám đốc nghiên cứu phần mềm hệ thống của IDC, nhận xét đây là một bước đi đúng đắn và Windows Server 2003 tỏ ra tốt hơn hẳn Windows Server 2000.

        Thị trường HĐH máy chủ tầm trung nóng bỏng sẽ là một trong những chiến trường đầu tiên mà Windows Server 2003 phải đối mặt, cụ thể là đối đầu với hai gã khổng lồ Unix và Linux. Tuy nhiên, trong thời gian tới, với sự xuất hiện các BXL Itanium mạnh hơn và các hệ thống 8 BXL 64-bit từ các công ty như IBM và Hewlett-Packard, Microsoft sẽ có cơ hội khẳng định chỗ đứng của mình trong thị trường này.

        Sun Microsystems hiện đang chiếm thị phần máy chủ 4 BXL lớn nhất. Sun cho rằng Linux sẽ bắt kịp công nghệ 4 BXL, tuy nhiên đối thủ của nó là Windows chứ không phải Solaris của Sun.

        HP, hãng dẫn đầu trong thị trường máy chủ Unix tầm trung, có nhận định khác với Sun. Theo HP thì Windows và Linux phát triển nhanh hơn Unix, và Linux sẽ thay thế một số ứng dụng Unix cấp thấp.

        Còn IBM thì cho rằng Windows Server 2003 không ảnh hưởng đáng kể đến thị phần Unix, tuy có thể đạt được thành công với người dùng Windows.  

    InfoWorld 17/03/2003

    ID: A0305_78