• Thứ Ba, 16/12/2003 16:48 (GMT+7)

    nVidia GeForce FX 5900 vượt lên dẫn đầu

        nVidia GeForce FX 5900 (tên mã NV35) mạnh hơn rất nhiều so với 5800. Liệu với con bài này, nVidia có giành lại được vị thế trước đây trong làng đồ họa?
        Nửa năm trước, nhằm tạo thế đối trọng với ATI Radeon 9700 Pro, nVidia tung ra GeForce FX 5800 (NV30). Nhưng trong khi sức mạnh chẳng hề vượt trội, GeForce FX 5800 lại còn gây ồn, nóng nhanh nên cần hệ thống tản nhiệt đặc biệt và đòi hỏi nguồn điện phụ. Con đường xâm nhập thị trường của GeForce FX 5800 đã không bằng phẳng như dự kiến.
        Sự xuất hiện của ATI Radeon 9800 Pro (RV350) càng khiến nVidia điêu đứng. Nhìn chung, Radeon 9800 Pro trội hơn so với GeForce FX 5800 về hiệu năng, chất lượng, tốc độ và giải pháp tản nhiệt. Cùng với sự hoàn thiện hơn bao giờ hết của thế hệ trình điều khiển (driver) mới từ ATI (Catalyst 3.x), RV350 thực sự bỏ xa đối thủ. Tuy nhiên, điều này đã thúc đẩy nVidia phát triển phiên bản GeForce FX mới với tên mã NV35 và tên hiệu GeForce FX 5900.

    QUAY LẠI DDR TRUYỀN THỐNG

        Chắc chắn Chip mới không thể tạo nên sự đột phá bởi nVIDIA có quá ít thời gian để thay đổi kiến trúc. Thêm nữa, chính tên gọi GeForce FX 5900 cũng toát lên ý rằng đây chỉ là phiên bản nhanh hơn NV30 nguyên thủy; tương tự GeForce 4 nhanh hơn GeForce 3. GeForce FX 5900 làm việc ở xung nhịp 450MHz, thấp hơn một chút so với FX 5800 (500MHz) nhưng lại được kết hợp hoàn hảo với hệ thống bộ nhớ 256 bit nên hoạt động ổn định hơn.
        FX 5900 quay về sử dụng bộ nhớ DDR truyền thống chứ không chọn DDR-II như FX 5800 trước kia. Dù ngược đời nhưng giải pháp này lại đạt hiệu quả và nVidia ném trúng cả đàn chim chỉ với một viên đá.

        •  Thay đổi giao tiếp bộ nhớ thành 256 bit: tuy không tăng gấp đôi băng thông nhưng cũng đã nâng băng thông lên 25,9GB/s (cao hơn 70% so với mức 16GB/s của GeForce FX 5800).
        •  Bỏ bộ nhớ DDR-II đắt tiền: giảm đáng kể giá thành sản phẩm.
        •  Chip nhớ DDR truyền thống đóng gói theo công nghệ Tiny BGA (Ball Grid Array): tỏa nhiệt ít hơn DDR-II nên hệ thống giải nhiệt không cần quá cầu kỳ.

        •  Kết hợp với công nghệ mới Intellisample High-resolution Compression (Intellisample HCT - Công Nghệ Nén Hình Phân Giải Cao Lấy Mẫu Thông Minh): tăng 50% hiệu năng xử lý trong chế độ khử răng cưa và lọc không đẳng hướng.
     
        Ngoài các điểm khác biệt đã được nêu trong bảng, NV35 còn nổi bật hơn NV30 ở các điểm sau:
        1. NV35 linh hoạt hơn rất nhiều so với NV30: cách xử lý điểm ảnh không cố định ở mức 8 pipeline mà thay đổi từ 4 đến 8 pipeline tùy tình huống.
        2. Công nghệ Ultra Shadow (siêu bóng): Trước đây, trục sâu Z và bộ đệm cho phép dựng bóng hình bị cố định ở mức 16bit hoặc 32bit. Giờ đây thông số này được tự động điều chỉnh theo môi trường xung quanh; thậm chí còn bị tắt trong một số trường hợp để giải phóng thời gian và năng lực xử lý cho GPU. Tất nhiên, cần phải đợi đến khi xuất hiện trò chơi hỗ trợ thực sự thì công nghệ này mới phát huy được sức mạnh. Splinter Cells của Tom Clancy, Grant Theft Auto:
    Vice City của Rockstar, Doom III và Half-Life 2 là những trò chơi mà bạn nên tìm kiếm ngay sau khi mua được card GeForce FX 5900.

        3. Không có nhiều thay đổi lớn trong bộ tạo bóng (engine shader), nVidia chỉ nâng cấp công nghệ CineFX lên phiên bản 2.0, giúp nâng cao chất lượng hình ảnh khi chiếu phim trên máy tính.

    KHỬ RĂNG CƯA THÔNG MINH
        nVIDIA đã áp dụng một công nghệ khử răng cưa mới: thay vì lấy 8 mẫu cho chế độ FSAA 8x như trước kia, card đồ họa thực hiện 4 lần lấy mẫu, mỗi lần 2 mẫu đối với Direct3D và 2 lần lấy mẫu, mỗi lần 4 mẫu với OpenGL. Mỗi đơn vị nhỏ này được gọi là “siêu mẫu” (supersampling) như hình minh họa dưới đây

    THỦ THUẬT ÉP XUNG

        Ép xung (overcock) không còn là khái niệm mới đối với người dùng bình thường lẫn tay chơi chuyên nghiệp. Dân chuyên nghiệp có thể áp dụng phương pháp phức tạp như gắn thêm tụ, IC, nối cầu điện để tăng xung nhịp nhân và bộ nhớ; bộ tản nhiệt nước, thiết bị làm lạnh bằng Nitơ lỏng; và sử dụng những chương trình khá rắc rối nhưng lại phong phú về tính năng như Rivatuner, NVMax, Geforce Tweak Utility cho dòng card nVidia, hay Radeonator, Rage3D, Powerstrip đối với dòng card ATI. Bạn có thể tham khảo www.vnoczone.com - diễn đàn chuyên về kỹ thuật bằng tiếng Việt.

        Người dùng thông thường nếu ngại rắc rối thì có thể điều chỉnh Registry Windows để kích hoạt chức năng overclock ẩn trong trình điều khiển DetornatorXP của nVidia (tham khảo www.guru3d.com). Ép xung card đồ họa cũng giống như đối với CPU và RAM, bạn hãy tăng liên tục xung nhân và bộ nhớ đến mức cao nhất có thể được. Nếu tăng xung nhịp lên quá mức “chịu đựng”, card đồ họa vẫn chạy bình thường nhưng hình ảnh sẽ rất xấu do xuất hiện nhiễu (artifact).
        GeForce FX 5900 có thể làm việc ổn định ở mức xung nhân 490MHz và xung bộ nhớ 900MHz; tăng lần lượt 8,9% và 5,9% so với chuẩn 450MHz/850MHz của nhà sản xuất. Tuy nhiên, hiệu quả đạt được không ấn tượng lắm.

        Dù nhà sản xuất đã thay thế bộ làm mát FlowFX ồn ào bằng hệ thống quạt và tấm tản nhiệt  truyền thống nhưng bộ làm mát vẫn lấn sang không gian của khe PCI kế cận. Hệ thống cảm ứng nhiệt tự động điều chỉnh tốc độ quạt theo nhiệt độ GPU: vừa tiết kiệm điện năng vừa giảm được tiếng ồn.
        Tương tự GeForce FX 5800, GPU mới vẫn cần cấp thêm nguồn điện phụ - một xu thế không có lợi cho người dùng nhưng lại xuất hiện ngày càng phổ biến.

        Với những cải tiến đầy tính thuyết phục như trên, GeForce FX 5900 không chỉ là bản thay thế tuyệt vời phiên bản GeForce FX 5800 mà còn là sản phẩm giúp nVidia giành lại vị trí dẫn đầu trong cuộc đua tốc độ xử lý đồ họa với ATI. Đã có thông tin nói rằng ATI sẽ đưa chip xử lý đồ họa mới RV400 ra làm đối trọng nặng ký với GeForce FX 5900 trong một tương lai gần.

    Nguyễn Thúc Hoàng Linh
    valkyrie.forever@usa.com

    ID: A0307_92