• Thứ Năm, 08/01/2004 09:31 (GMT+7)

    DV - video số cho mọi nhà

    Video số đang ngày càng phát triển như một công cụ phổ biến cho việc sáng tạo, từ phim gia đình đơn giản cho đến phim trình diễn và huấn luyện chuyên nghiệp. bài này sẽ xem xét bảy loại máy quay video số mà hầu hết đều dễ dùng, cho hình ảnh đẹp và có những giá trị khác nữa. đồng thời, chúng ta cũng sẽ cùng thử qua bảy bộ phần mềm biên tập video để biết được đâu là ứng dụng thích hợp nhất cho việc sản xuất phiḿ.

    Chọn Máy Quay

    DCR-TRV17 là loại máy quay mini-DV rẻ nhất của Sony

    Khi giá của máy quay ngày càng hạ, nhiều người bắt đầu nhận ra ích lợi của video số (digital video - DV) so với video tương tự (analog). DV ghi nhận hình ảnh sắc nét hơn và chất lượng hình ảnh không bị giảm khi bạn sang qua băng từ hay chuyển vào máy tính để biên tập. Theo phân tích của tập đoàn IDC, có khoảng 4 triệu máy quay số sẽ được bán ra trong năm 2002. Không những thế, theo dự đoán, máy quay DV cầm tay sẽ vượt số lượng bán ra của máy quay tương tự vào năm 2004.
    Các nhà sản xuất đưa ra nhiều chủng loại khác nhau để đáp ứng cho thị trường DV. Hiện có rất nhiều loại máy khác nhau về hình dạng, kích thước và giá cả – từ 500 USD cho đến 1.500 USD. Bài viết sẽ đề cập đến Canon Elura 20MC (1299 USD), JVC GR-DVL815U (799 USD), Panasonic PV-DV701 (899 USD), RCA CC9390 (1499), Samsung SC-D67 (500 USD), Sharp VL-NZ10U (1200 USD) và Sony DCR-TRV17 (1100 USD); đây là giá tham khảo ở Mỹ.

    Tương tự hầu hết máy quay DV, tất cả kiểu máy được thử nghiệm đều dùng băng DV nhỏ (mini-DV) dù có một số loại dùng phương tiện khác; ví dụ loại DZM100A mới của Hitachi ghi hình lên đĩa DVD-RAM (xem phần sản phẩm mới trong số này). Năm máy trên đây (trừ JVC và Samsung) cho phép thu từ nguồn video thường hay S-video bên ngoài, nhờ vậy bạn có thể sang những cuộn băng analog qua băng mini-DV.
    Thử nghiệm cũng tiến hành với một loại máy quay analog và loại máy quay số cao cấp: Canon ES420V, 320 USD dùng băng analog 8mm và Canon XL1 3.500 USD là loại máy quay số bán chuyên nghiệp có sẵn bộ trộn âm thanh, ống kính thay đổi được, nhiều tính năng âm thanh mạnh và nhiều khả năng điều khiển video hơn. XL1 dùng những bộ cảm biến CCD khác nhau để chuyển ánh sáng của từng màu trong ba màu cơ  bản thành tín hiệu điện trong khi những loại máy rẻ tiền hơn chỉ dùng một bộ CCD duy nhất.

    Xem tốt
    Đánh giá chất lượng hình ảnh dựa trên ba yếu tố: màu sắc, độ ổn định của hình ảnh và khả năng ghi nhận chuyển động của máy quay.

    SC-D67 của Samsung khó  dùng nhất nhưng cũng rẻ nhất. GR-DVL815 của JVC thiếu ngõ nhập cho analog nên bạn không thể chuyển băng cũ thành dạng tập tin số để biên tập

    Máy quay điều chỉnh các thông số màu sắc dựa vào ánh sáng. Trong quá trình gọi là cân màu (white balancing), máy quay phân tích tất cả màu sắc trong một hình ảnh, sau đó diễn dịch chúng để mắt người có thể cảm nhận được tốt nhất. Tất cả máy quay đều thực hiện điều  này một cách tự động, chỉ có những loại đắt tiền như Canon XL1 là cho phép thêm khả năng điều chỉnh bằng tay. Bảy loại máy quay trong bài đều cho màu sắc trung thực cả ở trong nhà lẫn ngoài trời. Chúng cũng thực hiện tốt việc chuyển từ điều kiện ánh sáng này sang điều kiện khác. Riêng máy Sony  chỉ có thể cân màu dựa vào tâm của hình ảnh chứ không phải toàn bộ vùng thấy được như những loại máy khác.
    Độ ổn định của hình ảnh không có gì đáng nói khi đặt máy quay trên chân đứng. Nhưng nếu giữ bằng tay thì hình ảnh có thể bị rung. Tất cả các loại máy quay đều có khả năng ổn định hình ảnh: chúng điều chỉnh những rung động nhỏ có thể làm mờ hình ảnh bằng cách dịch chuyển hình ảnh trên CCD... Tất nhiên, bạn không thể có được hình ảnh ổn định như khi sử dụng chân đế.
    Thử nghiệm cho thấy có sự khác biệt về chất lượng hình ảnh tương đối nhỏ trong những máy quay này; kể cả máy bán chuyên nghiệp Canon XL1. Máy JVC và Sharp cho hình ảnh kém nhất mà ở đây xếp hạng là trung bình và tốt. Dù vậy, ngay cả hai loại này cũng cho chất lượng hình ảnh đẹp hơn đáng kể so với những loại máy analog. Tất cả máy quay DV còn lại đều đạt điểm Rất Tốt; trong đó đáng ghi nhận là máy Panasonic cho hình ảnh cực kỳ sắc nét và màu sắc đẹp nhất.

    Trừ RCA và Samsung, những loại máy còn lại có luôn chức năng của máy ảnh số nhưng bạn nên lưu ý là những máy này chỉ có thể chụp ở độ phân giải 640x480 điểm ảnh.
    Panasonic và RCA có thiết kế sẵn đèn phụ, trong khi với những loại máy quay khác bạn có thể mua thêm. Điều này rất có ích trong trường hợp bạn cần ghi lại hình ảnh trong điều kiện thiếu sáng. JVC, Panasonic, RCA và Sony có chế độ quay trong điều kiện ánh sáng yếu bằng cách dùng tốc độ thu thấp hơn để tận dụng nguồn sáng sẵn có. Panasonic, RCA và Sony còn có bộ phát hồng ngoại, cho phép quay trong điều kiện rất ít hay không có ánh sáng thấy được. Bộ CCD của máy có thể chuyển ánh sáng hồng ngoại mà mắt người không thấy được thành video đen trắng. Panasonic lại một lần nữa khẳng định ưu thế khi cho màu sắc đẹp nhất trong điều kiện thiếu sáng và cho hình ảnh tốt nhất khi dùng tia hồng ngoại. 

    Quay cận cảnh

    Studio 7 của Pinnacle Systems, thích hợp cho những người dựng phim mới bắt đầu hoặc đã có kinh nghiệm.

    Bảy loại máy quay trên đều có tính năng zoom quang học (bằng ống kính) và zoom số (bằng phần mềm). Samsung có ống zoom quang học dài nhất (22X) trong khi những loại khác là 10X. Tất cả ống zoom đều hoạt động êm và máy cho chất lượng hình ảnh tốt ở cả độ zoom nhỏ nhất và lớn nhất của chúng. JVC, Panasonic, RCA, Samsung và Sony đều có độ zoom số rất cao (đến 500X đối với Samsung và Panasonic) nhưng tốt nhất là bạn không nên quay ở độ phóng đại trên 50X vì hình ảnh sẽ nhoè.
    Những máy quay này cũng có những khác biệt đáng kể về kiểu dáng thiết kế. Nhỏ nhất là Canon Elura 20MC, rộng khoảng 5cm và cao khoảng 10cm nhưng chính kích thước này lại gây bất tiện: ngón tay của bạn có thể khó thao tác với những nút điều khiển quá nhỏ, bạn phải gắn thêm phần phụ để có thể dùng micro cũng như ngõ xuất cho video. Một khuyết điểm khác là màn hình LCD của nó cũng hơi nhỏ, chỉ có 2,5 inch đường chéo, Samsung cũng có màn hình LCD cùng kích thước nhưng những máy quay khác có màn hình từ 3-3,5 inch.
    Ngược lại, Samsung là loại máy cồng kềnh nhất. Sharp thì lại có hình dáng như máy ảnh số nên hơi khó thao tác.

    Lớn và trong
    Tất cả máy quay đều thu âm thanh khá tốt với micro được thiết kế sẵn; nhưng nói chung những loại có micro bố trí ở phía trước cho kết quả tốt hơn loại bố trí bên trên máy. Ngoại trừ JVC GR-DVL815U; những máy còn lại đều cho phép nối với micro ngoài.
    Một số loại máy quay như Panasonic, Samsung và Sharp còn có vấn đề khác là thu luôn âm thanh cơ học khi ống kính zoom hoạt động. Sharp và RCA giải quyết  tốt vấn đề này nhờ thiết kế một số micro riêng rẽ để ghi nhận âm thanh từ nhiều hướng khác nhau. Khi ống kính zoom hướng vào đối tượng nào đó thì micro tương ứng sẽ được điều chỉnh để thu nhận nhiều âm thanh phía trước và ít âm thanh từ hai bên.

    Thời gian dùng pin
    Thử nghiệm quay dùng màn hình LCD thay vì ống ngắm, tất cả trừ Canon Elura đều có thời gian làm việc của pin trên một giờ; lâu nhất là Sharp với 1 giờ 47 phút. Tất cả những nhà sản xuất của các loại máy quay này đều có tuỳ chọn loại pin lớn hơn với thời gian làm việc dài hơn.

    Chọn lựa
    Trong số những loại máy được thử nghiệm, Panasonic PV-DV701 cho kết quả chung tốt nhất và giá cũng vừa phải, tiếp theo là Canon Elura 20MC nhưng giá lại đắt nhất.

    Phần mềm biên tập
    Máy quay chỉ mới làm công việc thu thập nguyên liệu thô và bạn cần phải có phần mềm biên tập để hoàn tất tác phẩm của mình. Phần mềm biên tập tốt cho phép dễ dàng lấy ra những đoạn quay tốt nhất, hòa trộn chúng bằng những pha chuyển cảnh, âm nhạc cũng như các hiệu ứng để tạo nên những thước phim thú vị.
    Bảy phần mềm được thử nghiệm là Adobe Premiere 6, AIST MovieDV 4, Discreet IntroDV, MGI Software VideoWave 5, Pinnacle Systems Studio 7, Sonic Foundry VideoFactory 2 và Ulead VideoStudio 6. Bạn có thể đọc thêm thông tin về những phần mềm dựng phim trong PC World Việt Nam số 02/2002, trang 43.
    Những phần mềm biên tập này được thiết kế cho người dùng mới bắt đầu hay trung bình và có giá vừa phải, trừ Premiere 6. Sở dĩ chọn sản phẩm này vì từ lâu nó được coi là chuẩn để các ứng dụng khác so sánh.
    Thử nghiệm được tiến hành đánh giá mức độ thành công của từng chương trình khi thực hiện năm công việc chính: nhập dữ liệu video, nhập dữ liệu âm thanh, tổ chức và cắt xén các đoạn video, chuyển cảnh và xuất ra phim thành phẩm.

    Nhập dữ liệu video
    Thử nghiệm được tiến hành trên PC cài Windows XP Home Edition, qua cổng IEEE 1394. Việc nhập liệu thực hiện dễ dàng vì tất cả chương trình trên đều tương thích với chuẩn có tên là OHCI, chuẩn này cho phép chương trình nhận biết bất kỳ máy quay DV nào và điều khiển chúng bằng các điều khiển trên màn hình (IEEE 1394 cũng tương thích OHCI).
    Pinnacle Studio 7 mang lại một số tính năng hữu ích để tiết kiệm dung lượng đĩa cứng trong quá trình chuyển dữ liệu. Thông thường, video số được nhập với tốc độ khoảng 3,6MB/giây. Với chế độ Preview của Pinnacle, bạn có thể lưu những tập tin video nhỏ, tạm thời để thực hiện việc biên tập. Khi thực hiện xong, ứng dụng này sẽ chỉ bắt giữ những đoạn video đã được chọn với chất lượng đầy đủ để hiện thực việc biên tập và dựng phim hoàn chỉnh.

    Nhập âm thanh
    Hầu hết những người làm phim sẽ nói với bạn là người xem có thể chấp nhận hình ảnh không hoàn hảo nhưng âm thanh kém thì không thể. Thử nghiệm âm thanh được thực hiện bằng cách nhập một bản nhạc từ đĩa CD và một bản từ tập tin MP3.
    Pinnacle lại có ưu thế với giao diện đơn giản. Nó cung cấp nhiều chọn lựa cho việc nhập âm thanh với những giải thích dễ hiểu. Những chương trình khác không có nhiều tùy chọn như vậy. Tuy nhiên, Adobe Premiere có rất nhiều công cụ biên tập mạnh.

    Tổ chức, biên tập phim
    Các chương trình sẽ tự động phân dữ liệu video thành những đoạn phim ngắn, dựa trên sự khác biệt về mã thời gian của máy quay; chúng còn cho phép bạn chia nhỏ hơn những đoạn phim này.
    Để bắt đầu biên tập, thường bạn chọn biểu tượng đại diện cho đoạn phim và kéo vào giao diện phân theo thời gian (timeline) hay cốt truyện (storyboard). Ûu điểm của storyboard là tính đơn giản: bạn sắp xếp thứ tự video và audio theo những khối liên tiếp nhau, từ trái sang phải. Bạn sẽ quản lý những đoạn “chồng nhau” bằng các thông số trong hộp thoại. Dạng timeline lại xếp chồng (stack) những đoạn video, âm thanh và hiệu ứng theo chiều dọc và vì thế phức tạp hơn, nhưng lại dễ kiểm soát hơn vì bạn biết chính xác mức độ chồng nhau của các đoạn.
    Premiere 6, MovieDV 4, Studio 7 và VideoStudio 6 đều có cả chế độ storyboard và timeline. Điều này rất tiện vì bạn có thể nhanh chóng sắp xếp thô bộ phim của mình một cách đơn giản bằng storyboard, sau đó tinh chỉnh ở chế độ timeline.
    Hầu như tất cả chương trình đều có tính năng giống nhau và đều dễ nắm bắt. Ngoại lệ là MovieDV 4.

    Gộp mọi thứ với nhau

    Cả storyboard và timeline đều cho phép bạn đưa những chuyển cảnh bằng cách kéo và thả giữa các đoạn. Hầu hết những nhà biên tập phim chuyên nghiệp đều thích biên tập đơn giản (đoạn video này đặt kế đoạn kia), tuy nhiên hầu hết những bộ phần mềm này  đều có nhiều chọn lựa hơn với những hiệu ứng và chuyển cảnh thú vị để bạn tuỳ thích làm việc. Studio 7 và Premiere 6 có làm sẵn các chuyển cảnh và công cụ biên tập. Bạn vẫn có thể tạo những chuyển cảnh của riêng mình và lưu lại để dùng về sau. Ngược lại, VideoFactory 2 giúp việc thực hiện chuyển cảnh rất dễ dàng: nhấn phải chuột lên một chuyển cảnh sẽ mở trình đơn ngữ cảnh để sửa đổi.
    Đối với việc nhập ảnh chụp và các dòng tựa đề, VideoStudio 6 của Ulead có 18 kiểu tựa đề khác nhau và bạn có thể thay đổi tuỳ thích. MGI VideoWave 5 lại có một số kiểu tựa rất tinh tế và trình đơn rõ ràng nhất để điều chỉnh định dạng. Điều khiển của MovieDV 4 hơi khó dùng nhưng khi bạn đã quen thì cũng rất mạnh.
    Dĩ nhiên, Premiere 6 và Title Deko của Pinnacle rất mạnh và có thiết kế như QuarkXPress hay Adobe InDesign.

    Chuyển thành phim
    Những bộ phần mềm này đều cho phép bạn xuất phim trở lại máy quay và tất cả đều có tùy chọn về chế độ nén như MPEG-1 cho web và CD, MPEG-2 cho DVD, v.v...
    Premiere 6 có nhiều công cụ nhất để xuất ra web, kể cả khả năng chọn chế độ nén âm thanh độc lập với nén video nhưng lại không cho phép xuất trực tiếp ra ổ ghi DVD. MGI VideoWave 5 lại có nút để tạo DVD, chạy được trên hầu hết ổ DVD-ROM và đầu máy thông thường; bạn cũng có thể tạo đĩa CD để xem trên ổ CD-ROM. MovieDV 4 cho phép chọn lựa rất nhiều định dạng khác nhau nhưng lại không có nhiều hướng dẫn để chọn định dạng tốt nhất theo yêu cầu. Pinnacle Studio 7 có ít tuỳ chọn hơn nhưng giao diện cũng ít phức tạp nhất.

    Chọn lựa
    Với giao diện thân thiện và giá vừa phải nhất, Pinnacle Studio 7 tỏ ra hấp dẫn nhất, đặc biệt là với người mới dùng, dù sức mạnh của nó đủ để thực hiện những trình diễn của doanh nghiệp.
    Premiere 6 là ứng dụng có nhiều tính năng nhất và mang tính chuyên nghiệp nhưng lại không phải là chọn lựa tốt nhất cho những người mới bắt đầu và người dùng thông thường. Với giao diện tương tự Premiere mà giá chỉ khoảng 1/9, VideoFactory 2 của Sonic Foundry tỏ ra đáng để quan tâm với chế độ dựng theo thời gian, công cụ âm thanh mạnh và hệ thống hướng dẫn độc đáo.

    Trung Hải
    PC World Mỹ 03/2002

    Sắc nét hơn
    Máy quay số cho kết quả tốt hơn nhiều so với máy quay analog, thể hiện trên những hình dưới. Khung bên trái là từ máy quay Panasonic PV-DV701 với các chi tiết sắc nét hơn; bên phải là từ Canon ES420V, dùng băng từ analog 8 ly.

    Storyboard khác với Timeline
    Dạng Storyboard như hình bên trái (Pinnacle Studio 7) cho phép bạn sắp xếp hình ảnh đại diện cho những đoạn video theo thứ tự tuyến tính. Dạng timeline (Adobe Premiere 6) dùng những thanh riêng biệt, xếp chồng lên nhau để biểu diễn thời gian của từng thành phần – đoạn video, âm thanh và chuyển cảnh – cũng như tình trạng chồng nhau của chúng. Một số chương trình cho phép chuyển đổi qua lại giữa storyboard và timeline.

    Studio 7 sắp xếp tuần tự các đoạn dữ liệu trong storyboard ở bên dưới và cho phép xem trước ở góc trên, bên phải.

    Timeline của Premiere 6 chồng video, audio và những dữ liệu khác trong một màn hình timeline phức tạp

    ID: A0203_34