• Thứ Năm, 08/01/2004 10:10 (GMT+7)

    Gigabit Ethernet sẽ phổ biến

    Doanh nghiệp thu được lợi gì khi triển khai mạng Gigabit Ethernet đến tận máy tính để bàn của nhân viên?

    Trên lý thuyết thì Gigabit Ethernet là một trong những công nghệ rất hay nhưng mức độ hiệu quả thì rất khó xác định chính xác; đặc biệt đối với hệ thống để bàn. Khá xa lạ với đông đảo mọi người, cặp từ gigabit và “PC để bàn” thường chỉ xuất hiện đồng thời trong suy nghĩ của những người luôn đòi hỏi khắt khe về chất lượng truyền thông trực tuyến. Có rất ít ví dụ thực tế thể hiện rõ lợi ích mà doanh nghiệp thu được từ việc triển khai Gigabit Ethernet đến PC để bàn. Xem ra thì đầu tư cho mạng Gigabit Ethernet diện rộng cũng khá là xa xỉ.

    Tình hình kinh tế giảm sút đã khiến cho giá thiết bị tin học giảm xuống, dĩ nhiên trong đó có adapter Gigabit Ethernet. Hiện tại thì chi phí trang bị khả năng Gigabit trên cáp đồng cho PC chỉ còn dưới 50 USD. Intel đang thúc đẩy các OEM đưa adapter Gigabit Ethernet vào trong những mẫu thiết kế PC căn bản, thay thế kết nối Intel 82559 10/100Mbps, và sẽ tập trung giới thiệu tính năng nâng cao tốc độ kết nối này cho khách hàng xí nghiệp.
    Vẫn còn ý kiến hoài nghi về độ tăng lưu lượng gói dữ liệu truyền đến máy để bàn qua kết nối Gigabit. Những thực nghiệm tiến hành trên giải pháp Gigabit cáp đồng của Intel sẽ cho phép chúng ta lạc quan hơn. Khi phân tích ở cấp ứng dụng, tốc độ đã tăng lên rõ rệt so với mạng Fast Ethernet (10/100Mbps) truyền thống. Những ứng dụng được sử dụng trong quá trình phân tích đều khá phổ dụng: CSDL mô hình khách/chủ, trình thông điệp, ứng dụng văn phòng chạy trên Microsoft SQL Server, Microsoft Exchange Server và môi trường PC được quản lý bởi Windows 2000 IntelliMirror.
    Nhằm loại bỏ những yếu tố thừa, phương pháp thử nghiệm được xây dựng dựa trên tất cả các công cụ sẵn có và theo phương pháp trực tiếp nhất.

    Bước đầu tiên sẽ tập trung vào giao dịch CSDL trong các ứng dụng khách/chủ thường gặp. Tải thực là một thực thể của đối tượng giả lập tải Database Performance Portal chạy trên Windows 2000 Server dùng Microsoft SQL Server 2000 (www.csaresearch.com). Sau đó, thay đổi tham số kích thước bảng để thu được kết quả tương ứng cho nhiều loại giao dịch khác nhau.
    Yếu tố kế tiếp cần quan tâm đến là tốc độ thực hiện giao dịch với hộp thư Microsoft Exchange 2000 trên máy chủ Windows 2000.  Công cụ Workflow Performance Portal (của InfoWorld Mỹ) xây dựng dựa trên MAPI (Messaging API) sẽ giả lập nhiều giao dịch thông điệp với Exchange Server như  tạo, xóa, và sao chép. Tải sẽ được thay đổi bằng cách tăng giảm số lượng thư mục nguồn, tạo ra một bảng kết quả với những giao dịch có dung lượng lên đến khoảng 25MB (gồm thông điệp và tài liệu). Bảng kết quả Database Portal được xây dựng dựa trên hơn hai chục mẫu giao dịch đại diện cho phần lớn các mô hình thực thi ứng dụng khách/chủ.
    Bước kiểm tra thứ ba tập trung vào khả năng quản lý PC để bàn: so sánh tốc độ ứng dụng văn phòng (Microsoft Word, Excel, PowerPoint, Internet Explorer) trong một mạng được quản lý bởi Windows 2000 IntelliMirror nhằm định lượng được mức độ Gigabit Ethernet ảnh hưởng đến tốc độ công việc.
    Sẽ là thiếu sót nếu chỉ trình bày phương pháp mà không đề cập đến hệ thống phần cứng. Mô hình kiểm tra khách/chủ sử dụng máy khách chạy Pentium 4 1,5GHz và  Pentium III 733MHz kết nối qua mạng cáp CAT-5 với máy chủ hai BXL Pentium III 733MHz. Đường xương sống 1Gbps được trang bị một routing switch Intel NetStructure 480T, trong khi đường xương sống 10/100Mbps dùng switch NetGear FS108 Fast Ethernet.
    Chức năng Active Directory PDC (Primary Domain Controller) và Primary DNS (Domain Name System) được chạy trên một máy chủ Dell PowerEdge riêng biệt, kết nối Internet ra ngoài được cung cấp qua router FlowPoint 2200 SDSL (symetric DSL).

    Qua những con số
    Trên bảng kết quả giao dịch CSDL, ta thấy rõ rằng khoảng cách vượt trội của mạng Gigabit Ethernet so với Fast Ethernet sẽ càng xa khi tăng dần số lượng bản ghi trong một giao dịch. Nhìn chung thì tốc độ trên mạng xương sống 1Gbps nhanh hơn trên 100Mbps trung bình khoảng 41%, một kết quả ấn tượng với hầu hết mọi nhu cầu công việc.

    Kết quả kiểm tra dòng thực thi ứng dụng (workflow) thì không chênh lệch nhiều nhưng sau 5 cấu hình kiểm tra, mức vượt trội trung bình vào khoảng 22%, kết quả cao nhất (24%) ứng với trường hợp tải nhẹ nhất. Thoạt nhìn thì thấy kết quả này có vẻ mâu thuẫn với bảng kết quả giao dịch CSDL nhưng nếu phân tích kỹ, ta sẽ phát hiện ra một nút cổ chai giữa Microsoft Exchange Server và kiến trúc giao tiếp đĩa cứng. Trong mỗi phép thử, giao dịch được khởi động rất nhanh nhưng lại bị sa lầy khi ghi lên đĩa tại máy chủ. Nếu bạn có thể tinh chỉnh lại hành vi truy xuất I/O của Exchange, như đưa ra hàng đợi những dữ liệu không yêu cầu ngay, kiểm tra-phát hiện những thao tác truy xuất I/O thường lặp lại, thì mức xuất lượng giao dịch sẽ cao hơn.
    Vùng mà Gigabit Ethernet thực sự tỏa sáng là môi trường PC được kiểm soát: toàn bộ dữ liệu của ứng dụng và người dùng đều được lưu giữ lên máy chủ trung tâm. Trình kiểm tra OfficeBench 3.0 chạy giả lập một loạt các công việc phổ biến trên Word, Excel, PowerPoint và Internet Explorer. Trên mạng Gigabit Ethernet với hệ thống Pentium III, tốc độ thực thi của OfficeBench nhanh hơn khoảng 67%.

    Có mối tương quan trực tiếp giữa tốc độ máy để bàn và hiệu suất đầu tư cho Gigabit Ethernet: máy khách càng nhanh thì độ cải thiện tốc độ càng tăng. Chuyển sang môi trường Gigabit là mục tiêu mong muốn  của mọi môi trường tính toán cấp doanh nghiệp và nó càng có ý nghĩa khi cũng đồng thời nâng cấp các máy tính  để bàn.
    Với hiệu suất dòng thực thi ứng dụng chỉ giới hạn bởi tốc độ truy xuất I/O trên máy chủ, mức xuất lượng giao dịch CSDL cao hơn gần 50% so với mạng Ethernet 100Mbps đã là một minh chứng rõ ràng về ích lợi mà người dùng PC để bàn trong doanh nghiệp sẽ được thụ hưởng. Không chỉ người dùng cao cấp mà người dùng ở mọi cấp độ khác đều sẽ nhận thấy sự tăng tốc trên mạng Gigabit Ethernet, đặc biệt khi chạy trên môi trường PC được quản lý cao.

    Thùy Vân
    Infoworld 21/1/2002

    ID: A0203_56