• Thứ Năm, 08/01/2004 16:22 (GMT+7)

    Dịch vụ Frame Relay

     Cùng với xu hướng phát triển dịch vụ chung trong khu vực, các dịch vụ truyền dữ liệu, trong đó có Frame Relay đã và đang là một yêu cầu lớn đặt ra cho ngành viễn thông Việt Nam. Phát triển mạng Frame Relay sẽ là bước đầu xây dựng cơ sở hạ tầng cơ sở viễn thông đầy đủ để có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường khi chúng ta tham gia vào các tổ chức quốc tế lớn như  WTO, ASEAN, APEC...

    Dịch vụ frame relay là gì?
    Frame Relay là dịch vụ nối mạng dữ liệu theo phương thức chuyển mạch gói, hoạt động ở mức liên kết (link level) và rất thích hợp với truyền số liệu dung lượng lớn. Về mặt cấu trúc, Frame Relay đóng gói dữ liệu và chuyển đi theo cùng cách thức được sử dụng bởi dịch vụ X25. Khác biệt là X25 được cài đặt ở mức 2 (mức vật lý) và mức 3 (mức mạng) trong mô hình OSI (Open System Interconnection), trong khi Frame Relay chỉ đơn giản là một giao thức ở mức 2, bỏ qua các tiện ích sửa lỗi trong cấu trúc khung, điều khiển luồng thông tin (flow control). Khung có lỗi sẽ bị hủy bỏ chứ không sửa chữa, nhờ vậy thời gian xử lý tại bộ chuyển mạch giảm, nên Frame Relay đạt mức thông lượng cao hơn cả mức cao nhất của X25.
    Frame Relay, cũng như X25, tiết kiệm đáng kể so với đường thuê riêng (private line) nhờ tính năng dồn kênh cho phép thiết lập nhiều kết nối (hoặc cuộc thoại) trên cùng một đường dây vật lý. Trên đường vật lý kết nối duy nhất, Frame Relay hỗ trợ nhiều ứng dụng khác nhau của khách hàng như TCP/IP, NetBIOS, SNA..., cho cả các ứng dụng thoại. Nhờ vậy tiết kiệm chi phí băng thông, đường dây cũng như thiết bị truyền dẫn và thiết bị kết nối.
    Chính vì những ưu điểm này mà dịch vụ Frame Relay đã được ưa thích từ khi ra đời và ngày càng phổ biến.

    Lợi ích của Frame Relay:
    * Tạo ra băng thông lớn, thích hợp với ứng dụng phức tạp, đồng thời tiết kiệm chi phí hơn các công nghệ tương ứng; không chỉ dịch vụ mà cả thiết bị.
    * Hỗ trợ khả năng “Busty Traffic” - thông thường khi đăng ký sử dụng dịch vụ,̣ mỗi nhà cung cấp đều đảm bảo một tốc độ truyền cam kết (Committed Information Rate -CIR), tốc độ truyền dữ liệu thực tế không được phép nhỏ hơn giá trị này. Trong trường hợp mạng không bận, tốc độ truyền có thể vượt mức CIR.
    * Hỗ trợ xây dựng mạng diện rộng ảo dùng công nghệ chuyển mạch gói thay vì dùng đường trực tiếp (Dedicated End to End Circuits). Thay vì dùng mạng hình nhện hoặc mạch trực tiếp để nối các mạng con với nhau, nhà quản lý mạng có thể xây dựng mạng nhánh/chủ (hub-and-spoke network) thông qua mạng Frame Relay của nhà cung cấp dịch vụ. Điều này giúp giảm chi phí thiết bị, cước sử dụng mạng trong nước, cước sử dụng mạng diện rộng; tăng cường khả năng chuyển đổi, linh hoạt, kết nối các mạng máy tính với nhau; thay đổi chất lượng theo yêu cầu của khách.
    * Loại bỏ được quá trình kiểm tra và hiệu chỉnh lỗi: Trong thập kỷ 70, 80, cơ sở  hạ tầng truyền thông (đường truyền, chuyển mạch...) không có độ tin cậy cao như hiện nay; nhiễu trên đường truyền thường gây lỗi dữ liệu. Do vậy, các giao thức (protocol) truyền tin lúc bấy giờ phải có khả năng xử lý lỗi. Chúng tập trung vào dữ liệu của người sử dụng, kiểm tra lỗi và nếu có thì yêu cầu truyền lại. Nếu vẫn bị lỗi, người sử dụng sẽ được thông báo kèm thêm một số thông tin chẩn đoán. Cách này đảm bảo an toàn cao cho dữ liệu, vẫn hợp lý so với tổng chi phí phát sinh (về thời gian xử lý, tốc độ và tài nguyên đường truyền). Hiện nay, do chất lượng đường truyền đảm bảo hơn, cũng như thiết bị đầu cuối của khách hàng có khả năng kiểm tra và sửa được lỗi trên đường truyền, việc tích hợp khả năng sửa lỗi và điều khiển luồng tin trong khi truyền không còn quá quan trọng đối với ứng dụng “thời gian thực”.
    * Tăng tốc độ truyền: Công nghệ trong thập kỷ 80 tập trung trên các hệ thống có khả năng truyền hàng ngàn bit một giây, ngày nay tốc độ này không còn phù hợp. Ngày càng có nhiều ứng dụng cần truyền khối lượng lớn dữ liệu trong một thời khoảng nhất định (như hình ảnh màu, cơ sở dữ liệu lớn...). Ví dụ, một ứng dụng cần truyền nhiều trang thông tin tài khoản ngân hàng giữa hai máy tính. Nếu tài liệu này được truyền bằng máy Fax không có chức năng nén dữ liệu, một trang chiếm khoảng 40-50 triệu bit thì với đường truyền 56 kb/giây, sẽ phải mất khoảng 10 phút. Dĩ nhiên, trên thực tế, máy Fax có bộ nén và do vậy việc truyền chỉ mất khoảng vài chục giây qua đường 9,6 kb/giây. Tuy nhiên, tỷ lệ nén cũng có giới hạn và chất lượng của dữ liệu (như tiếng nói, hình ảnh...) sẽ bị suy giảm. Với công nghệ cáp quang, vấn đề thông lượng truyền không còn được đặt ra. Tuy nhiên từ đây cho đến lúc công nghệ cáp quang trở nên đại trà, nhu cầu về một giao thức cho phép truyền dung lượng lớn trong khoảng thời gian ngắn vẫn được đặt ra. Và Frame Relay làm được điều này.

    Sự “thông minh” của máy tính: Trước đây, do khả năng tính toán của máy tính còn thấp, mạng truyền phải đảm nhiệm hầu như toàn bộ công việc đảm bảo tính  toàn vẹn cho dữ liệu truyền. Ngày nay, thiết bị đầu cuối ngày càng có khả năng xử lý mạnh hơn, thông minh hơn, phần mềm ứng dụng có liên quan đến việc truyền dữ liệu hầu hết đều có cài đặt chức năng kiểm tra lỗi. Do vậy, mạng truyền tập trung tăng tốc độ truyền, giảm thiểu chi phí truyền, nâng cao hiệu quả. Frame Relay chính là nghi thức mới hoạt động theo hướng này.
    Dưới đây là những lý do mà người dùng đầu cuối muốn dùng dịch vụ Frame Relay:
    Lý do                                                             %

    Nối mạng cho những ứng dụng truyền ảnh         31

    Kết nối liên mạng các LAN                               31

    Tốc độ                                                                                29

    Giá thành                                                        24

    Dễ dàng sử dụng/đáng tin cậy                          16

    Xử lý các giao dịch phân bố                                       16

    Hội nghị qua mạng                                            5

    Nguồn: Nhóm tư vấn Yankee, Boston, Marketing

    Các Ứng Dụng Chủ Yếu Của Mạng Frame Relay
    1. Kết nối mạng

    Việc xuất hiện các chương trình ứng dụng theo kiểu khách/chủ, xử lý phân bố, đã tạo nên nhu cầu kết nối các mạng cục bộ lại với nhau (LAN interconnection).  Trong trường hợp các mạng cục bộ này cách xa về địa lý, việc kết nối chúng thành các mạng diện rộng (WAN) sẽ nảy sinh nhiều vấn đề. Thí dụ, một tổ chức (công ty, tập đoàn ...) có thể có nhiều mạng cục bộ dùng hệ điều hành, thủ tục, phương tiện truyền khác nhau. Hơn nữa, về mặt công nghệ, mạng cục bộ (LAN) và mạng diện rộng (WAN) là hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, để kết nối chúng lại với nhau, phải có một thiết bị trung gian giữa hai loại mạng này.
    Giải pháp kết nối mạng diện rộng, mạng hình nhện trước đây phụ thuộc rất lớn vào các kênh kết nối trực tiếp, do đó việc thay đổi cấu trúc mạng đòi hỏi phải thay đổi cấu hình phần cứng và phần mềm; tốn nhiều thời gian, chi phí. Với Frame Relay, việc thêm mạch ảo giữa các đầu cuối trở lên khá đơn giản, việc thay đổi mạch ảo được thực hiện rất dễ dàng và nhanh chóng.
    Û́ng dụng trong kết nối mạng cục bộ (LAN), phương thức kết nối này đem đến những lợi ích như: Đơn giản về mạng lưới, giảm thiểu chi phí đầu tư về thiết bị, giảm chi phí so với kênh trực tiếp (thông thường chỉ bằng 30-40% so với các đường kết nối trực tiếp), nâng cao hiệu quả sử dụng mạng lưới (40% nhờ khả năng hỗ trợ nhiều thủ tục khác nhau của Frame Relay), giảm thiểu gián đoạn trong quá trình truyền tin do không còn cơ chế sửa lỗi khi truyền.

    2. Hỗ trợ chuẩn SNA của IBM.
    Frame Relay hỗ trợ chuẩn truyền số liệu của IBM SNA Network, không có thay đổi lớn về phần mềm, phần cứng (front end processor) trong việc đánh địa chỉ và cấu hình mạng lưới.
    Đến nay, có khoảng 50.000 công ty sử dụng các máy tính lớn (mainframe) dựa trên cấu hình của IBM SNA. Việc duy trì, bảo dưỡng và thay đổi hệ thống là khó và tốn kém, đồng thời việc kết nối với các chuẩn khác (LAN) khá khó khăn. Frame Relay cho phép các nhà  quản trị hệ thống sử dụng IBM SNA giải quyết các vấn đề trên một cách đơn giản và tiết kiệm.

    3. Phục vụ các ứng dụng trong ngân hàng
    Một ví dụ điển hình khi Frame Relay được ứng dụng trong ngân hàng. Trước đây các ngân hàng thường sử dụng nhiều cấu hình mạng khác nhau.
    - Mạng  X.25 liên kết máy chủ SNA với các máy đầu cuối tại văn phòng dùng để  các nhân viên thu tiền ghi nhận các giao dịch của khách hàng.
    - Mạng bảo vệ Security/Alarm.
    - Mạng dùng cho thư điện tử - email hoặc xử lý số liệu.
    - Mạng chuyển tiếng nói “voice” trợ giúp các máy điện thoại tại các máy thu tiền tự động (Bank’s ATM machines).
    Tất cả các ứng dụng trên có thể được sử dụng kết hợp qua một kênh kết nối Frame Relay duy nhất.
    Ngoài ra Frame Relay còn có thể dùng cho nhiều ứng dụng khác như: Thoại trên môi trường Frame Relay; Û́ng dụng kết nối internet; Tạo bước đệm cho công nghệ ATM
    Mạng Frame Relay cho phép người sử dụng hoặc các thiết bị mạng như FRAD, Router  liên lạc với nhau thông qua mạng ATM Backbone

    Xu hướng phát triển dịch vụ Frame Relay trên thế giới
    Xuất hiện từ năm 1994, Frame Relay đã và đang là một dịch vụ có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay. Doanh thu của dịch vụ Frame Relay tăng từ 830 triệu USD trong năm 1995 lên 3,9 tỷ USD năm 1997. Trong những năm trước đây dịch vụ Frame Relay được coi là một dịch vụ mạo hiểm đối với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông. Tuy nhiên, đến nay đã có khoảng 24  nhà cung cấp dịch vụ viễn thông ở châu Á cung cấp dịch vụ này tại 11 quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Frame Relay hiện đã và đang được cung cấp tại rất nhiều nước trên thế giới như: HongKong, Malaysia, Singapore, Nam Triều Tiên, Đài loan,Thái Lan, Nhật Bản, New Zealand, Mỹ... Theo số liệu thống kê hiện nay của tổ chức Data Communication, Nhật Bản hiện nay có 23 nhà cung cấp dịch vụ Frame Relay,  Australia có 5 nhà cung cấp dịch vụ Frame Relay.
    Thị trường hiện nay của Frame Relay chủ yếu là các ngành công nghiệp có yêu cầu chuyển dữ liệu tốc độ cao và kết nối LAN/WAN; có thể liệt kê một vài ngành như các công ty dược phẩm, tổ chức tài chính, dầu khí, vận tải ...
    Khách hàng trong các công ty này có thể sử dụng dịch vụ Frame Relay cho các ứng dụng: Tính lương, kiểm soát tồn kho, xử lý yêu cầu bồi thường ...

    Sự cần thiết của việc xây dựng mạng Frame Relay tại Việt nam
    Cùng với xu hướng phát triển dịch vụ chung trong khu vực, Frame Relay đã và đang là một yêu cầu lớn của các khách hàng tại Việt nam. Điều này xuất phát từ việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sự phát triển không ngừng của công nghệ viễn thông cũng như sự hiểu biết về công nghệ viễn thông của người sử dụng. Với xu hướng mở cửa và hội nhập hiện nay, việc phát triển mạng Frame Relay sẽ là bước đầu xây dựng cơ sở hạ tầng cơ sở viễn thông đầy đủ để có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường khi chúng ta tham gia vào các tổ chức quốc tế lớn như  WTO, ASEAN, APEC... VASC

    ID: A0206_59