• Thứ Sáu, 09/01/2004 14:34 (GMT+7)

    Cuộc tái đấu giữa Linux và Windows

    Liệu người dùng Windows có thể từ bỏ Microsoft?  Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể nhưng hãy còn quá sớm để Linux trở thành đối trọng của Windows.
    Windows XP có lẽ đã thỏa mãn tất cả yêu cầu của người dùng khó tính nhất, nhưng những hạn chế, rắc rối như không hỗ trợ phần mềm cũ, các lỗ hổng bảo mật, lỗi phần mềm, chính sách bản quyền của Microsoft vẫn còn là mối bận tâm của toàn thể người dùng Windows.Vậy hệ điều hành nào sẽ là chọn lựa để thay thế cho Windows? Cách đây khoảng 2 năm, Linux vẫn còn là một cái gì đó thô sơ, chuyên biệt, bí hiểm và lạ lẫm đối với người dùng thông thường, nhưng hiện nay hệ điều hành này đã được cải tiến đáng kể và bổ sung nhiều chức năng tương tự Windows. Liệu nó đã hoàn toàn phù hợp với người dùng thông thường? Bài viết này xem xét sản phẩm SuSE Linux 8.0 để kiểm nghiệm các tính năng mới của Linux so với Windows, phiên bản Linux này được sử dụng khá phổ biến tại châu Âu và cũng sẽ xuất hiện trên thị trường Mỹ.
    Khác với Windows, Linux là một hệ điều hành rất uyển chuyển, người dùng có thể tùy ý thay đổi nhiều thứ, ngay cả màn hình giao diện. Linux lại là hệ điều hành an toàn hơn Windows, có thể chạy trên CPU từ cổ điển như intel 486 cho đến loại Pentinum IV hiện đại nhất hiện nay. Xét về tổng thể Linux là hệ điều hành được cấu thành bởi nhiều phần mềm hệ thống khác nhau, trong khi Windows là hệ điều hành thống nhất. Linux cũng là một hệ điều hành kén chọn phần cứng, có giao diện, từ ngữ chuyên môn khác xa so với những gì mà người dùngWindows đã quen thuộc.

     

    Linux Phù Hợp Với Ai?
    Các phiên bản Linux hiện thời đã tích hợp rất nhiều tính năng thuận tiện cho người dùng như trong Windows, ví dụ như trình cài đặt tự động, tài liệu đi kèm, giao diện đồ họa, chính sách hỗ trợ kỹ thuật... Linux hoạt động cũng an toàn hơn Windows, chỉ sau 24h đồng hồ kể từ khi các lỗ hổng bảo mật, lỗi phần mềm được phát hiện, cộng đồng Linux đã đưa ra các chương trình sửa lỗi và cũng có thể nói rằng Linux, cho đến hiện nay, chưa là mục tiêu cho trận dịch virus nào.
    Môi trường hoạt động của Linux đều có thể cải biên, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu chuyên biệt của từng người dùng, nhưng điều này đòi hỏi người dùng phải có trình độ chuyên môn khá vững, đôi khi kết quả đạt được không tương xứng với thời gian, tiền bạc và công sức bỏ ra.
    Nhìn chung, Linux vẫn là môi trường dành cho người dùng máy tính có kiến thức tin học vững vàng hoặc người dùng cần những tính năng đặc biệt mà môi trường Windows hoàn toàn không đáp ứng được. Người dùng thông thường có lẽ chẳng có lý do gì để tự nhiên nhảy sang một môi trường mới, bắt tay làm lại từ đầu tất cả những gì mà mình đã có, đã đạt được trên môi trường Windows.

     

    Sử Dụng Song Hành Linux Và Windows
    Để vừa đảm bảo hoạt động bình thường vừa có thêm kiến thức, kinh nghiệm về Linux chúng ta có thể cài Linux trên cùng máy tính đã cài Windows, phòng khi cần một chức năng nào đó mà Linux không thỏa mãn được thì chúng ta chỉ cần khởi động lại máy và chuyển sang Windows. Trong Linux có bộ phần mềm hệ thống Wine tạo môi trường giả lập Windows để các phần mềm ứng dụng (khoảng hơn 1.000 ứng dụng) viết cho Windows có thể chạy được trên nền Linux. Tuy nhiên có rất nhiều ứng dụng không hoạt động được theo cơ chế này, công sức bỏ ra để cài đặt, cấu hình Wine giúp cho phần mềm Windows chạy ổn định không phải là nhỏ cho dù bạn là người có trình độ về máy tính.

     

    Cài Đặt Linux
    Nhìn chung thao tác thực hiện, thời gian cài đặt hệ điều hành Linux không khác gì lắm so với khi cài đặt Windows. Nhưng quá trình này không tự động hoàn toàn như Windows, người dùng sẽ phải tự mình thực hiện một số động tác, trả lời một số câu hỏi, có những câu đòi hỏi kiến thức máy tính trên mức trung bình.


    The GIMP là một phần mềm đồ

    họa khá mạnh trong Linux

    Nếu máy tính của bạn khởi động được từ ổ đĩa CD-ROM, DVD và nếu máy tính của bạn có phần cứng mạnh, phổ biến trên thị trường thì công việc cài đặt Linux sẽ dễ dàng hơn. Trong trường hợp không khởi động được từ CD-ROM, thì bạn phải khởi động từ đĩa mềm, tương tự như cài đặt Windown XP/2000 - tạo đĩa khởi động, khai báo thiết bị phần cứng, khai báo vùng đĩa cứng (do hệ thống tập tin của Linux khác với Windows nên chúng ta phải dành một vùng đĩa cứng riêng). Dung lượng đĩa cứng tối thiểu để cài đặt Linux phục thuộc vào từng nhà phân phối và chế độ giao diện (đồ họa hay dòng lệnh), chương trình ứng dụng cần thiết. Nhìn chung để có một hệ điều hành Linux đầy đủ các chức năng, có giao diện đồ họa và đầy đủ phần mềm ứng dụng văn phòng thì yêu cầu dung lượng đĩa cứng vào khoảng 800MB; tương tự như trong trường hợp dùng Windows 2000/XP.

    Khác với Windows, Linux có rất nhiều loại giao diện đồ họa, trong đó phổ biến KDE và GNOME có cách thao tác tương tự như trong Windows (GNOME có hình thức giống với hệ điều hành Apple Mac OS X). Điểm quan trọng là nó không cứng nhắc như Windows, nếu không thích loại giao diện này bạn có thể tải về và cài đặt loại giao diện khác, hoặc chọn chế độ giao diện làm việc ngay từ khi làm thủ tục đăng nhập vào hệ thống Linux (nếu đã có hai hay nhiều loại giao diện khác nhau trên máy). Các chương trình ứng dụng vẫn tiếp tục hoạt động bình thường cho dù giao diện đồ họa đã bị thay đổi.
    Công việc cuối cùng của quá trình cài đặt là quyết định sẽ cài đặt các ứng dụng phần mềm, công cụ tiện ích. Thông thường, để đơn giản hóa thủ tục thực hiện các phiên bản Linux của các nhà phân phối thường thiết lập sẵn chế độ mặc định (phiên bản SuSE đặt tên là Default system) tương  đương với chế độ cài đặt “typical” trong Windows. Trong chế độ cài đặt mặc định (default system) trình cài đặt Linux sẽ cài đặt gần như tất cả các phần mềm ứng dụng cần thiết cho người dùng; khác với quan điểm phân phối sản phẩm của Windows là chỉ bán hệ điều hành, muốn dùng ứng dụng nào thì bạn phải trả tiền cho ứng dụng đó.

    Cơ Cấu Phân Quyền Người Dùng Trong Linux


    Giao diện GNOME có hình thức tương tự như giao diện của Mac OS X


    Hệ điều hành Linux cũng tương tự như Windows NT/2000/XP, có cơ cấu phân quyền người dùng rất rõ ràng, chỉ có “root” (người dùng có toàn quyền đối với hệ thống) mới được quyền cài đặt, chỉnh sửa, bổ sung, cấu hình hệ thống, cấp quyền dùng cho người dùng mới, phân phối tài nguyên hệ thống cho người dùng. Ngoài ra, Linux cũng có cơ chế cho phép một người dùng nào đó tạm thời đăng nhập với quyền hạn của “root” để giải quyết một tác vụ nào đó thuộc thẩm quyền của người quản trị hệ thống (“root”) nếu như người đó có mật khẩu đăng nhập hệ thống của “root”.
    Rõ ràng là cơ chế bảo vệ hệ thống của Linux chặt chẽ hơn Windows, ví dụ như trong phiên bản Windows XP Home tất cả mọi người dùng đều có toàn quyền tác động đến hệ thống máy tính.

     

    Hoạt Động Trong Môi Trường Linux
    Nếu quá trình cài đặt Linux thành công, máy tính sẽ khởi động lại, màn hình khởi động sẽ ra hiện trình LILO quản lý quá trình khởi động hệ điều hành của máy tính. Ngoài ra, nếu trong phân vùng đĩa cứng của Windows dùng định dạng FAT32 thì bạn còn có thể truy cập được các tập tin lưu trữ trên phân vùng của Windows quản lý. Trình cài đặt Linux sẽ tạo một biểu tượng chứa liên kết tới phân vùng đĩa cứng của Windows và đặt trên màn hình desktop của Linux.Không giống như Windows thường giấu quá trình khởi động các chương trình hệ thống bằng màn hình có biểu tượng lá cờ của Windows, Linux hiện ra tất cả các thông báo trạng thái, kết quả khởi động các chương trình này.
    Các thao tác máy tính cơ bản như kết nối vào mạng cục bộ, tạo kết nối vào internet cũng dễ dàng như khi làm việc trong môi trường Windows. Nếu trong quá trình cài đặt, máy tính đã có sẵn card mạng, đường truyền, modem và được cấp quyền truy cập mạng nội bộ, internet thì tất cả các công việc này được trình cài đặt của Linux thực hiện, chỉ cần bạn cung cấp định danh, mật khẩu, địa chỉ IP của người dùng. Cũng cần lưu ý là có một số modem loại Winmodem không hoạt động được trong môi trường Linux, danh sách các loại modem loại này có thể tham khảo tại địa chỉ: linmodems.org.


    Phần mềm WINE giúp cho các ứng dụng của Windows chạy trong môi trường Linux

    Với máy in thì khác, trong Windows việc kết nối vào một máy tính mạng hoàn toàn dễ dàng nhưng với Linux thì công việc này khá phức tạp. Người ta thường dùng một phần mềm hệ thống có tên là Samba hỗ trợ việc truy cập máy in trên mạng (nhất là những máy in kết nối vào máy tính dùng Windows) cũng dễ dàng như trong Windows. Thông tin chi tiết về kết nối với máy in trong Linux có đầy đủ tại địa chỉ: linuxprinting.org.
    USB là chuẩn kết nối thiết bị ngoại vi mới phổ biến nên mặc dù Linux có hỗ trợ nhưng không đảm bảo tất cả các thiết bị có cổng USB đều hoạt động tốt, một số thiết bị chưa có phần mềm điều khiển chạy trên Linux. Nếu bạn có thiết bị phần cứng loại này không hoạt động trong Linux và hãng sản xuất chưa kịp cung cấp phần mềm điều khiển, hãy thử truy cập vào web site Linux Driver Foundry ở địa chỉ find.pcworld.com/31227 hoặc www.linuxhardware.com. Tuy nhiên, nếu bạn có phần cứng chưa được Linux hỗ trợ thì tốt nhất nên khai thác tính năng của nó trên Windows.

    Ứng Dụng Chạy Trên Môi Trường Linux
    Có thể nói trên Windows có phần mềm ứng dụng nào thì Linux cũng có sản phẩm tương tự mà lại miễn phí. Ví dụ như trên Windows chúng ta dùng Adobe Photoshop để xử lý hình ảnh thì trong Linux, phần mềm The GIMP cũng có chức năng tương tự, bộ phần mềm OpenOffice hay StarOffice chạy trên Linux có chức năng tương tự như bộ phần mềm văn phòng MS Office chạy trên Windows. Hơn nữa các phần mềm trên Linux đều có thể hiểu định dạng của các tập tin ứng dụng trên Windows có cùng chức năng. Nhưng nói một cách công bằng các tính năng được xây dựng trong phần mềm cho Linux không phong phú và tiện dụng như phần mềm cùng loại trên Windows. Cách thức tổ chức truy cập menu, thanh tác vụ của cùng một nhóm phần mềm có cùng chức năng cũng rất khác nhau, thiếu nhất quán nên dễ dẫn đến sự ngộ nhận. Cách trình bày, trang trí giao diện của ứng dụng trên Linux không sắc xảo và mang tính chuyên nghiệp như của Windows.

    Do đó sẽ có những công việc bắt buộc người dùng Linux phải dùng phần mềm ứng dụng của Windows để giải quyết. Để đáp ứng nhu cầu này, trong bộ cài đặt Linux có một phần mềm hệ thống tên là Wine, phần mềm này có chức năng cho phép một số phần mềm ứng dụng của Windows có thể chạy trên nền Linux (truy cập địa chỉ find.pcworld.com/30836 để có danh mục chi tiết các phần mềm ứng dụng Windows có thể chạy trên Wine). Để tiết kiệm thời gian xây dựng cấu hình cho Wine hoạt động tốt và thuận tiện, phần mềm tiện ích CrossOver Office giá 55USD, của CodeWeavers (www.codeweavers.com), có chức năng cài đặt cho Wine một cấu hình thích hợp để chạy bộ phần mềm văn phòng MS Office 97, 2000. Wine là một chương trình hệ thống chạy rất ổn định nhưng không có nghĩa là tất cả, một vài chương trình trò chơi, ứng dụng trên nền Windows vẫn không thể chạy ổn định trên Linux và ngay như bộ phần mềm MS Office, chương trình Access vẫn không hoạt động được trong môi trường của Wine, nhất là các ứng dụng được viết cho Windows XP.

     

    Kết Luận
    Cộng đồng người dùng Windows vẫn chưa thấy có lý do nào thực sự thuyết phục để chuyển sang dùng Linux. Người dùng thông thường lại càng gắn chặt với Windows và các ứng dụng hiện có, nhất là khi máy tính của họ có phần cứng không được Linux hỗ trợ.

    Mặc dầu đã có những tiến bộ đáng kể trong từng chức năng nhưng các nhà phân phối Linux vẫn còn rất nhiều công việc phải hoàn thành để sản phẩm của mình thực sự thuyết phục về mọi phương diện, ví dụ như: giao diện thân thiện, trình cài đặt chạy trơn tru, khả năng hỗ trợ phần cứng tốt, chính sách hỗ trợ khách hàng...

    Tuy nhiên, đối với các nhà chuyên môn, người dùng có kinh nghiệm thì Linux vẫn là một hệ điều hành uyển chuyển, ổn định, chi phí thấp, tính bảo mật cao. Dù gì đi nữa, Linux cuối cùng rồi cũng sẽ là một trong các hệ điều hành hàng đầu trên thế giới. ÿ


    Lê Thu

    PCWorld Mỹ 11/02


    Ưu và Khuyết
    5 Ưu Điểm Nổi Trội Của Linux

    Hoàn toàn miễn phí: Tuy bạn vẫn phải trả một khoản tiền nhất định khi mua Linux từ các nhà phân phối như RedHat, Debian, SuSE... nhưng đây là chi phí của tài liệu hướng dẫn, bộ đĩa cài đặt, hỗ trợ kỹ thuật... chứ không phải là chi phí về bản quyền sử dụng. Nếu không muốn mất tiền, bạn có thể tải về (không hạn chế) Linux và các ứng dụng ngay trên web site của các nhà phân phối trên mà không phải trả chi phí nào khác.

    Uyển chuyển: Các nhà phân phối Linux có thể chỉnh sửa môi trường hoạt động của Linux cho phù hợp với yêu cầu riêng của từng đối tượng người dùng. Người lập trình cũng có thể tự mình chỉnh sửa Linux và các ứng dụng theo ý muốn và phân phối lại sản phẩm của mình cho mọi người cùng sử dụng.

    Độ an toàn cao: Do là phần mềm mã nguồn mở nên khi có lỗi phần mềm, lỗ hổng bảo mật trên Linux bị phát hiện thì chỉ sau 24h đã được khắc phục. Người dùng có thể tải về bản sửa lỗi trên mạng để sử dụng. Thêm vào đó, các tay chuyên viết chương trình virus máy tính thường không coi Linux là đối tượng tấn công chính.

    Hướng dẫn sử dụng rất phong phú trên internet: Nếu có vấn đề thắc mắc không tự mình giải quyết được, hay chưa được đề cập đến trong tài liệu đi kèm bộ đĩa cài đặt, người dùng có thể nhanh chóng tìm câu trả lời trên internet, bắt đầu từ địa chỉ www.tldp.org, web site này tập hợp gần như đầy đủ các thông tin về Linux.

    Hệ điều hành chạy thống nhất trên mọi hệ thống phần cứng: Cho dù có nhiều phiên bản Linux được nhiều nhà phân phối khác nhau phát hành nhưng tất cả đều hoạt động bình thường trên các loại CPU khác nhau của Intel, từ Intel 486 cho đến các loại Pentinum mới nhất, từ máy tính chỉ có 4MB RAM đến các máy chủ hiện đại và mạnh, tất nhiên sẽ có một vài loại ứng dụng không hoạt động được nếu tốc độ CPU hay dung lượng bộ nhớ RAM quá nhỏ. Trái ngược với những điều mà chúng ta từng nghe, từng cảm nhận mỗi khi có phiên bản Windows mới ra đời, cơn khát về CPU, tốc độ xử lý, dung lượng RAM là các chỉ tiêu phải quan tâm trước.

     

    5 Nhược Điểm Cố Hữu Của Linux
    Người dùng phải thành thạo: Trình cài đặt tự động, giao diện thân thiện với người dùng cũng chỉ giảm nhẹ phần nào những phức tạp sẽ gặp phải trong quá trình cài đặt phần mềm, cấu hình hệ thống, tinh chỉnh màn hình, card âm thanh, card mạng... Đôi khi những công việc này bắt buộc bạn phải thao tác từ dòng lệnh hết sức bí hiểm, nhàm chán và rất dễ nhầm lẫn. Để thành công, không còn cách nào khác là bạn phải đầu tư rất nhiều thời gian để nghiên cứu tài liệu trước khi tiếp xúc với hệ thống.

    Phần cứng ít được hỗ trợ: Mặc dù các nhà phần phối Linux đã hết sức cố gắng để bộ Linux của họ có đầy đủ trình điều khiển cho tất cả các thiết bị phần cứng có trên thị trường, tuy nhiên vẫn còn những thiết bị phần cứng không hoạt động được trong Linux.


    Phần mềm ứng dụng chưa tinh xảo: Các phần mềm ứng dụng trên Linux rất sẵn và không mất tiền, nhưng đa số không tiện dụng, phong phú chức năng như các bộ phần mềm chạy trên Windows hay Mac. Sự tiện dụng cho người dùng trong các bộ phần mềm nổi tiếng trong Linux như StarOffice, Evolution, The GIMP cũng chỉ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của người dùng thông thường, thiếu những chức năng đặc trưng mà người dùng đã quen sử dụng trong bộ phần mềm ứng dụng Microsoft Office, Outlook, Photoshop.

    Thiếu chuẩn hóa: Do Linux phát hành miễn phí nên bất cứ ai nếu muốn đều có thể tự mình đóng gói, phân phối theo cách mình thích. Bên cạnh các nhãn hiệu nổi tiếng như: RedHat, Mandrake, SuSE còn có hàng chục nhà phân phối khác trên thị trường, người dùng trước khi cài đặt phải tự mình so sánh để tìm ra sản phẩm thích hợp. Phương pháp phát hiện và giao diện phần mềm để cấu hình phần cứng cũng rất khác nhau, lắm khi đẩy người dùng lạc vào mê hồn trận.

    Chính sách hỗ trợ khách hàng thiếu nhất quán và tốn kém: Mọi người thường phàn nàn về chi phí khi yêu cầu Microsoft hỗ trợ kỹ thuật cho các tình huống đột xuất. Nhưng Linux cũng không phải là ngoại lệ, mặc dầu không phải trả phí bản quyền sử dụng nhưng người dùng phải trả phí cho mỗi thắc mắc cần giải đáp từ nhà phân phối, cho dù đó chỉ là các thắc mắc thông thường qua điện thoại.

     

    Thích Hợp Với Môi Trường Nhiều Người Sử Dụng
    Tuy Windows đã khác xa so với DOS (hệ điều hành một người dùng đầu tiên của Microsoft) và cho phép tạo môi trường làm việc phù hợp với sở thích, yêu cầu của từng người dùng khác nhau trên một máy tính, nhưng muốn chia sẻ tài nguyên của mình cho người dùng khác đang hoạt động trên mạng vẫn phải cài đặt thêm một số chương trình tiện ích khác. Trong khi đó các tính năng này lại là bản chất của Linux và cũng là tính năng nổi trội so với Windows.

    Giao Diện Của Cửa Sổ Control Panel Quá Phong Phú












    Control Panel
    (nơi người dùng truy cập vào các chương trình cấu hình phần cứng, giao diện làm việc và môi trường hoạt động của cá nhân) của Linux rất lộn xộn và không thân thiện, không có tính gợi nhớ nên khi cần chỉnh sửa, người dùng hiếm khi xác định được ngay cái mình cần, tuần tự thực hiện... Hơn nữa, mỗi nhà phân phối lại có một Control Panel đặc trưng riêng (trên hình vẽ là Control Panel của SuSE), mặc dù xét về quan điểm lập trình, các thủ tục cấu hình cho phần cứng, chương trình dịch vụ đều phải qua những bước nhất định. Với Windows thì mọi thứ đều nhất quán, mỗi biểu tượng trong cửa sổ Control Panel là một tính năng xác định, tuy nhiên lại thiếu các tham số môi trường cần thiết để người dùng có kinh nghiệm tự xây dựng môi trường làm việc riêng bằng các tập tin kịch bản có dạng như là Autoexec.bat, config.sys trước đây.

     

    Giao Diện Của Linux Có Thể Chỉnh Sửa Để Phù Hợp Với Từng Cá Nhân
    Ngoài hai giao diện đồ họa phổ biến ,KDE (hình trên bên trái) và GNOME có tính năng và thao tác tương tự như của Windows, người dùng có thể chọn lựa và cài đặt rất nhiều loại giao diện khác nhau. Với những máy tính có phần cứng quá cũ hoặc yếu thì chỉ có thể chạy Linux ở chế

     

    độ giao tiếp bằng dòng lệnh hay các giao diện đồ họa có tính năng hạn chế. Trái lại, Windows là một hệ điều hành có một giao diện đồ họa chuẩn, các phần mềm ứng dụng trên Windows phải chấp nhận chuẩn giao diện duy nhất này, cho dù chương trình đó (nhất là các chương trình cũ chạy trên nền DOS trước đây) chỉ yêu cầu giao tiếp bằng dòng lệnh. Đây chính là lý do các ứng dụng cũ đã hoạt động tốt trên DOS, Windows 3.x... nhưng không thể nào chạy ổn định trên hệ các điều hành Windows mới (Me, 2000, XP).

    ID: A0212_60