• Thứ Ba, 10/08/2004 08:29 (GMT+7)

    Đâu là máy quay số thích hợp?

    Dòng máy quay kỹ thuật số mới ghi hình đẹp, nhỏ gọn và giá hấp dẫn.

    Những tiến bộ trong công nghệ sản xuất máy quay kỹ thuật số (camcoder) gần đây đã biến công việc sáng tạo phim trở nên đơn giản và có giá cả phải chăng đến không ngờ! Dù quay với mục đích làm phim tự do, minh họa bài trình diễn hoặc ghi lại kỷ niệm gia đình, việc bạn phải làm chỉ đơn giản như soạn lời cám ơn nhận giải Oscar! Bạn có thể dễ dàng chuyển toàn bộ nội dung video số vào máy tính, biên tập lại và ghi ra DVD để gửi tặng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp.

    Hầu hết máy quay số giới thiệu trong bài đều dùng băng MiniDV thông dụng, nhưng có hai mẫu máy của Sony sử dụng loại 'băng đặc biệt': DCR-DVD300 ghi lên đĩa miniDVD 8cm và DCR-IP1 dùng băng MicroMV.

    Với máy quay số, yếu tố thời gian pin, chất lượng quay ngoài trời, trong nhà và đêm rất được coi trọng. Tất cả 9 mẫu đều đạt chất lượng đẹp khi quay ngoài trời và tốt khi quay trong nhà. Bạn rất khó nhận ra sự khác biệt chất lượng giữa các đoạn video thử nghiệm. Xét về độ trung thực hình ảnh, Panasonic PV-DV953 được đánh giá cao nhất.

    Thời gian dùng pin của tất cả máy quay đều đạt yêu cầu sử dụng hàng ngày nhưng bạn vẫn nên mua thêm pin công suất cao hoặc pin dự phòng. Ngoài ra, bạn có thể kéo dài thời gian dùng pin bằng cách ngắm qua ống kính thay cho màn hình LCD.

    Thân máy quay số được thiết kế tạo cảm giác thoải mái khi cầm lâu và thuận tiện cho quá trình thao tác. Dù không nhẹ bằng nhưng Panasonic PV-DV953 vẫn hơn PV-DV73 về độ thoải mái của tay cầm và hệ thống nút điều khiển.

    Trên tất cả máy quay đều có chức năng phóng đại số nhưng không hữu dụng lắm vì chỉ phóng lớn một phần khung ảnh và thường bị nhiễu. Thay vào đó, bạn nên quan tâm đến giá trị phóng đại quang học.

    Hầu như các máy quay số đều đáp ứng đầy đủ những tính năng cơ bản và chỉ khác nhau rõ rệt về những tính năng nâng cao. Tính năng đang được chú trọng hiện nay là quay đêm hoặc quay trong điều kiện ánh sáng yếu. Canon ZR80 có chế độ quay đêm cho phép giảm tốc độ màn trập để ghi nhận được nhiều ánh sáng hơn. Panasonic PV-DV73 có đến 3 chế độ quay đêm: quay tốc độ màn trập chậm, dùng LED trắng và dùng đèn hồng ngoại; có thể dùng để quay cảnh sinh hoạt của thú rừng trong công viên lúc đêm.

     

    TÌM HIỂU VIDEO SỐ

     

     

    Bạn có thể tìm thấy những thông tin bổ ích, hướng dẫn quay video số, biên tập và ghi video lên đĩa trong những bài sau.
    'Ổ và phần mềm ghi DVD trên đường đua mới' - TGVT A 4/2004.
    'Tạm biệt VHS, chào đón DVD' - TGVT A 10/2003.
    'Đưa mọi thứ lên DVD' - TGVT A 6/2003.

     

    Canon ZR80

    Giá: 350 USD


            Canon ZR80

    Nhận xét: Thời trang, nhỏ gọn và giá hợp lý nhưng hệ nút điều khiển không thuận tiện.

    Canon ZR80 là máy quay số cấp thấp thuộc loại rẻ nhưng lại có nhiều tính năng hữu dụng như ống kính phóng đại quang học 18X và kính ngắm 'gật gù'. Nhưng với đối tượng người dùng mới thì máy quay này chưa thật dễ vận hành. Bù lại, ZR80 mang lại cảm giác thoải mái cho người dùng khi cầm lâu. Nút bấm bên hông và mặt sau bố trí khoa học nên không bị bấm nhầm. Ngoài ra, đây còn là máy quay số nhẹ nhất, nặng chưa đến 567g.

    Tuy nhiên, việc thiết kế một nút kiêm nhiệm nhiều chức năng và cấu trúc trình đơn thiếu khoa học đã gây bối rối và khó khăn cho người dùng khi sử dụng. Một số chức năng thường dùng lại bị đặt quá sâu trong trình đơn điều khiển: buộc người dùng phải tham khảo sách hướng dẫn thì mới biết cách cài đặt giờ, ngày tháng. Máy quay không cung cấp khe nhớ mở rộng, cổng nối microphone và cổng S-video nhưng bạn sẽ tìm thấy chúng trong dòng máy đắt tiền hơn.


     


    Canon ZR90

    ZR80 quay ánh sáng yếu không tốt lắm: hình video nhiều hạt, màu tái. Ngay cả khi quay bình thường, chất lượng ZR80 cũng không cao. Pin đủ dùng trong 1,5 giờ và bạn có thể điều khiển dễ dàng từ kính ngắm các thao tác quay, phát và truy xuất trình đơn. Điều duy nhất không làm được với kính ngắm là nghe âm thanh khi phát lại băng. Bạn buộc phải mở màn hình LCD!

    Canon ZR90

    Giá: 520 USD
    Nhận xét: Trang bị nhiều tính năng hữu ích nhưng hệ thống điều khiển hơi khó dùng.


          Hình 1

    ZR90 chung thiết kế với ZR80 nhưng có thêm một số tính năng như ống kính phóng đại quang học 22X, cải thiện chế độ quay ánh sáng yếu, cho phép lưu hình tĩnh phân giải 1024x768 hoặc quay clip video vào thẻ SD. Trong lúc quay, bạn vẫn có thể chụp ảnh vào thẻ nhớ nhưng độ phân giải chỉ đạt 640x480 điểm ảnh. Nguồn sáng LED trắng phía trước máy hiệu quả khi quay trong môi trường ánh sáng yếu với khoảng cách từ 60cm đến 90cm.

    Đi kèm máy còn có ống kính góc rộng (hình 1) nhưng rất dễ rơi, đòi hỏi người dùng phải hết sức cẩn thận. ZR90 lặp lại hạn chế của ZR80 là nút bấm phía sau khó thao tác và một nút thường kiêm nhiệm nhiều chức năng. Để làm quen hệ thống trình đơn, bạn cũng cần thời gian.

     

    QUAY VIDEO KHÔNG CẦN BĂNG?

     

     

    Thế hệ máy quay mới xuất hiện không ghi hình lên băng mà lưu vào thẻ nhớ flash SD. Tuy nhiên, các mẫu máy mới này giá còn cao và chưa đủ yếu tố để thay thế dòng máy quay băng.
    Hai mẫu mới trong số dòng máy quay thẻ SD đáng được tham khảo là Fisher FVD-C1 Pocket CameraCorder và Panasonic SV-AV100. Cả hai đều kèm thẻ SD 512MB, cho phép lưu đến 1 giờ phim, và nhỏ hơn mọi máy quay băng với kích thước 2,5x10x7,5 cm và nặng khoảng 170g.
    Cả FVD-C1 và SV-AV100 đều quay chất lượng tốt nhưng chất lượng xuất ra vẫn chưa bằng máy quay băng dù là loại rẻ nhất.

    Fisher FVD-C1 (trái) và Panasonic SV-AV100(phải)

     

     

    Quá trình nén đã làm phát sinh hiện tượng carô và giật hình.Bên cạnh đó, thẻ nhớ SD không rẻ chút nào. Bạn sẽ tốn khoảng 200 USD cho một thẻ SD 512MB; dung lượng chỉ tương đương băng MiniDV 90 phút giá 10 USD. Vì thế, trong khi dòng máy quay không băng đang là mốt sành điệu thì máy quay băng vẫn còn ưu việt về chất lượng và giá.

     

    JVC GR-D7-2US

    Giá: 450 USD


           JVC GR-D72US

    Nhận xét: Kiểu dáng bắt mắt, nhiều tính năng so với dòng giá thấp nhưng khó điều khiển.

    JVC GR-D72US có khả năng chụp hình tĩnh và lưu lên thẻ SD, ống kính phóng đại quang học 16X và nguồn đèn LED trắng sáng. Chất lượng hình ảnh đạt trên mức trung bình, màu trung thực và tinh tế.

    Tuy nhiên, cảm giác cầm máy không thật sự thoải mái và nút quay quá nhạy nên rất dễ 'cướp cò'. Kính ngắm dễ nhìn, hiển thị sáng, sắc nét nhưng lại không thể gạt lên; bạn đành phải ngắm qua LCD khi thế máy không thể đặt ngang tầm mắt.

    Panasonic PV-DV-73


     

      Panasonic PV-DV73

    Giá: 580 USD
    Nhận xét: Có nhiều chế độ quay đêm nhưng công suất pin yếu.

    PV-DV73 trang bị đèn huỳnh quang cực mạnh (hình 2) có thể chiếu sáng đối tượng cách máy gần 2m. Thậm chí, bạn có thể dùng làm đèn pin đi trong đêm.

    So với dòng máy đắt tiền cùng đẳng cấp, PV-DV73 vượt trội về khả năng quay đêm vì là mẫu máy DVcam duy nhất trang bị đồng thời LED trắng và đèn hồng ngoại. Trình đơn và hệ thống điều khiển được thiết kế đơn giản, đủ thông tin và dễ sử dụng. Nút bấm và vòng xoay được bố trí hợp lý: có phím điều khiển kết hợp zoom với chỉnh âm lượng và bánh xoay duyệt băng trơn nhẹ. Tuy nhiên, phím truy xuất trình đơn lại đặt tại góc trên bên phải mặt sau, gần kính ngắm nên không thể vươn ngón cái bàn tay phải đến.

         Hình 2

    Khi cầm máy lâu, bạn sẽ cảm thấy không thoải mái vì có một cạnh máy nhô ra, cấn vào lòng bàn tay. Pin của DV73 chỉ làm việc liên tục được 1 giờ 2 phút, ngắn nhất trong các máy thử nghiệm. Bạn có thể chụp hình với độ phân giải 1280x960, một kết quả ngoại suy dựa trên độ phân giải 640x480 thực của bộ cảm biến nhưng hình ảnh trông đẹp.

    Panasonic PV-DV953

    Giá: 1250 USD

     

    Panasonic PV-DV953

    Nhận xét: Mặc dù giá cao nhưng là chọn lựa xứng đáng cho người dùng có yêu cầu cao.

    PV-DV953 hơn hẳn các sản phẩm khác về nhiều mặt: từ vẻ cứng cỏi đến chất lượng ảnh tuyệt đẹp, đến thời gian dùng pin lâu và tính năng chụp ảnh.

    PV-DV953 là mẫu DVCam mắc nhất trong số sản phẩm thử nghiệm nên cũng dễ hiểu khi chất lượng băng quay bởi DV953 cực kỳ sắc nét, màu sắc rực rỡ và có chiều sâu. Ngoài ra, chất lượng ảnh tĩnh của DV953 cũng thuộc loại cao nhất, đạt 2048x1496.

    Dù PV-DV953 không lớn hơn nhiều các mẫu máy khác nhưng nó lại nặng nên tay cầm nhanh mỏi hơn. Dù có nhiều tính năng nhưng hệ thống nút, vòng và trình đơn điều khiển của máy được thiết kế hợp lý. Bạn luôn có thể vươn ngón tay một cách nhanh chóng đến các nút chức năng. Thời gian chạy pin khá dài: 2 giờ 11 phút.

     

    MÁY TỐT NHẤT

     

     

    Nếu quan tâm giá trị hơn tính năng, Sony DCR-HC20 (hình phải) rõ ràng nhẹ, gọn gàng, đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu cơ bản (ống kính zoom và tay cầm thoải mái) và đặc biệt dễ dùng (mẫu mới nhất được giới thiệu trong bài 'Sony DCR-HC40E - TGVT 06/2004, trang 70'). Người dùng thích điều khiển tay, yêu cầu cao về chất lượng hình và không dư dả nên chn5 Panasonic PC-DV953 (hình trái) để có được hình ảnh xuất sắc, pin dùng lau và nhiều tính năng nâng cao.

     

    Sharp VL-Z800U

         Hình 3

    Giá: 650 USD
    Nhận xét: Thiết kế sáng tạo, cho phép sử dụng linh hoạt và đơn giản.

    Kiểu dáng Sharp VL-Z800U gợi lại hình ảnh của những khối rubic xưa. Máy khá nhỏ gọn và được tách thành hai phần xoay độc lập nhau (hình 3). Bạn có thể giữ và dùng máy quay trong rất nhiều tư thế khó như quay qua đầu đám đông hoặc quan sát bên dưới tường rào mà không cần 'vặn' cổ tay hoặc cởi bỏ dây đeo. Đặc biệt thích hợp khi bạn cần quay tại những nơi đòi hỏi phải giữ chặt thân máy như giữa đám đông người và khi đi tàu xe.

     
       Sharp VL-Z800U

    Tuy nhiên, khả năng quay đêm của máy không tốt: cả hai chế độ quay đêm của Z800U đều bị hạt và không tươi màu bằng các máy khác. Z800U ghi nhận hình ảnh đẹp trong điều kiện sáng bình thường, nhưng chưa rõ nét bằng Panasonic PV-DV953. Pin của máy hoạt động liên tục được 2 giờ 7 phút.

    Sharp ghép một số nút điều khiển và di chuyển vào cụm phím chỉ hướng nên thao tác điều khiển VCR và duyệt trình đơn có phần đơn giản hơn. Nhưng có một số chức năng đáng lẽ nên đặt thành nút riêng thì công ty lại đưa vào trong trình đơn.

     

    PINNACLE LIQUID EDITION PRO: DỰNG 7 LỚP VIDEO THỜI GIAN THỰC

     

     

    So với trước thì kích thước của hệ thống dựng phi tuyến tính (NLE-non linear editing) đã được thu nhỏ đáng kể. Thời kỳ đầu, thiết bị dựng kỹ xảo kềnh càng và gồm nhiều linh kiện điện tử phức tạp. Nhưng hiện nay, toàn bộ hệ thống có thể được tích hợp gọn vào card máy tính chuẩn PCI. Bộ vi xử lý Pentium, AMD và G4, G5 xuất hiện đã mang lại cho hệ thống máy tính khả năng giải nén cùng lúc nhiều lớp video chất lượng video số (DV) mà không cần mạch chuyển đổi DV riêng và phần cứng xử lý kỹ xảo chuyên dụng. Gần đây, khả năng dựng và xử lý kỹ xảo thời gian thực trên máy tính cũng đã được nâng lên đáng kể nhờ băng thông 2,1GB/s

     

     

     

    của chuẩn AGP 8x.
    Sau phiên bản Edition 4.5 (giới thiệu tháng 10/2002), Pinnacle tiếp tục phát triển lên phiên bản 5.0, 5.5 và 5.6. Liquid Edition Pro là bộ sản phẩm cao cấp nhất trong dòng Edition của Pinnacle hiện nay, có nhiều tính năng vượt trội hơn các sản phẩm thuộc loại chuyên nghiệp có mức giá 1.000 USD khác (tham khảo bài 'Liquid Edition Pro-Chuyên nghiệp mà gần gũi', Thế Giới Vi Tính A 3/2004). Đặc biệt, Liquid Edition 5.5 chạy được trên card Pinnacle DV, DV500 hay Pro-One nhưng không thể thực hiện một số chức năng tạo hiệu ứng 3D hay bóc nền (key) thời gian thực như trên Liquid Edition Pro.
    Một trong những tính năng chuyên nghiệp đã được tích hợp trong Liquid Edition Pro là điều khiển thiết bị ngoại vi như đầu máy video VTR chuyên dụng, đầu Sony betacam SP, Panasonic DVC Pro, thông qua cổng RS-422 với bộ điều khiển Pinnacle Jog/Shutle; điều chỉnh âm lượng thông qua thiết bị ngoài (Midi fader); hỗ trợ chuẩn ALE/OMFI để có thể giao tiếp với các hệ thống khác; hỗ trợ dựng phim nhóm làm việc trên mạng; đảm bảo băng thông video cho từng bộ dựng phim khi được kết nối trên mạng Pinnacle Paladium; cũng như cho phép xuất dạng nén (Xsend) lên Pinnalce Thunder và DekoCast hay các hệ thống phát sóng tự động khác của truyền hình. Ngoài ra, bạn còn có thể Xsend ra Macromedia Flash FX cho thiết kế web và gửi cho mọi người.
    Các tính năng có giá trị khác như hỗ trợ DVCPRO-25 và Sony Cliplink cho phép chép tập tin từ ổ cứng của máy quay phim Sony vào ổ cứng hệ thống dựng phi tuyến. Đặc biệt, hiện nay Liquid Edition Pro cũng có phần lựa chọn cho người dùng chuyên nghiệp cho phép đọc và copy dữ liệu trực tiếp từ máy quay Camera Panasonic P2 (loại máy quay dùng thẻ nhớ đầu tiên) hay máy quay XD-Cam của Sony.
    Với chức năng làm chậm hình (slowmotion) vô cấp, người dựng có thể thay đổi tùy ý tốc độ của video clip dựng; điều không thể làm  được với Adobe Premiere trên một số phần cứng có giá khoảng 1000 USD phổ biến hiện nay. Ngoài ra công cụ CX color correction hỗ trợ chỉnh màu cả sơ cấp và thứ cấp với bảng công cụ rất đầy đủ.
    Dựng 'âm thầm' (background rendering), tính năng độc đáo mà các phần mềm dựng phim trước đây không có, cho phép bạn làm việc trong khi hệ thống thực hiện việc dựng (render). Trước đây, với phần mềm Adobe Premiere, bạn cần render trước khi xuất hình ra băng (tape) và có khi phải chờ hàng giờ hoặc cả đêm. Nếu may mắn thì việc cũng xong, tuy nhiên nếu hệ thống báo lỗi trong lúc bạn đi ngủ thì ngày mai, bạn lại tiếp tục chờ!
    Nhờ có mạch tăng tốc tích hợp trên bo mạch dùng khe AGP, Liquid Edition Pro có khả năng xuất cùng lúc 10 lớp (gồm 5 lớp video và 5 lớp graphic) thời gian thực ra ti vi ngoài. Trên máy P4 3GHz, 1GB RAM, và ổ SATA, bạn có thể xem (playback) thời gian thực 7 lớp video stream mà không bị mất một khung hình nào cả, hoặc thực hiện 6 kỹ xảo PiP (hình trong hình) trên 1 lớp video nền.
    Dễ dàng thấy rằng để hệ thống thực hiện được nhiều lớp video thời gian thực như trên, băng thông cần đủ lớn để tải dữ liệu từ đĩa cứng, và bộ vi xử lý phải đủ mạnh. Tuy nhiên, công đoạn quyết định đến hiệu năng hệ thống thực sự nằm ở quá trình nén và giải nén dữ liệu giữa các phần tử trong hệ thống máy tính.

     

     

     

    Dựng 7 lớp video thời gian thực
    Trên Liquid Edition Pro, Pinnacle tích hợp bo mạch đồ họa AGP cùng với bộ vi mạch chuyển đổi tín hiệu video/audio tương tự (analog) ra dữ liệu số. Việc kết nối cũng đơn giản hơn rất nhiều

     

     

    thông qua hộp nối dây  video/audio (break out box) chuyên dụng.
    Khi chúng ta số hóa tín hiệu video/audio analog thì mạch A/D chuyển đổi cả tín hiệu video và audio ra dữ liệu số, rồi lưu tạm trên bộ nhớ của bo mạch đồ họa. Dữ liệu tiếp tục được chuyển tới bus AGP và bộ nhớ RAM của máy tính. Ở đó, CPU của máy tính sẽ thực hiện lệnh nén dữ liệu theo sự điều khiển của phần mềm. Cuối cùng, dữ liệu video/audio được nén theo chuẩn DV, chuyển tới RAM hệ thống và ghi lên đĩa cứng thông qua bus PCI. Toàn bộ quá trình không cần đến phần cứng nén (codec) DV!
    Phần lớn kỹ xảo 3D phức tạp chưa thể tính toán trên CPU và vẫn phải nhờ đến chip xử lý đồ họa (GPU - Graphics Processor Unit) tích hợp trên card đồ họa. Vì thế, kênh truyền dữ liệu nối giữa RAM hệ thống với GPU cần phải được khai thông thì mới triển khai được phép dựng nhiều lớp video thời gian thực.
    Dù lượng dữ liệu của mỗi lớp video chỉ chiếm 3,5 megabyte/giây (3,5MB/s) nhưng kênh truyền cần phải rộng 20MB/s để đảm bảo sự liên tục của dòng video. Đáp ứng đòi hỏi băng thông 25MB/s để truyền đồng thời 7 lớp video không phải là quá khó đối với hệ thống đĩa cứng SATA 100 tốc độ 7.200 vòng/phút; vì nó đã đạt đến băng thông 35MB/s khi ghi/đọc 1GB dữ liệu. Giới hạn còn lại nằm ở kênh giao tiếp giữa RAM và GPU.
    Để quá trình chuyển dữ liệu video đến bộ nhớ RAM diễn ra trôi chảy, hệ thống cần thiết lập kênh truyền có băng thông 20MB/s. Như vậy, chuẩn giao tiếp PCI 133MB/s chỉ cho phép thiết lập 4 kênh truyền (vì hệ thống còn phải dành một phần băng thông cho dữ liệu điều khiển), tương đương 4 lớp video thời gian thực. Với cách tính tương đương, bạn dễ dàng thấy rằng băng thông 2,1GB/s (giao tiếp AGP 8X) đủ sức cung cấp 7 kênh truyền video thời gian thực.
    Sau khi GPU đã render các kỹ xảo, dữ liệu được giải nén và tạm lưu giữ trên RAM của bo mạch đồ họa. Từ đây, khung hình có thể xuất qua bo mạch đồ họa thông qua ngõ DVI/VGA để người dựng phim xem trước. Nó cũng có thể được gửi tới bo mạch D/A nằm trên bo AGP để có thể xuất ra TV bên ngoài thông qua ngõ Composite hay S-Video. Nghĩa là, bạn đã có thể bắt đầu thu băng VHS được rồi. Nhờ kết hợp việc xuất ra màn hình và ngõ Analogue trên cùng bo mạch nên khi tạo các kỹ xảo 2D/3D, Liquid Edition Pro không còn bị lệ thuộc vào tốc độ hạn chế của giao tiếp PCI nữa.
    Hiện nay, ngoài việc xuất ra băng VHS như truyền thống sau khi dựng phim xong, bạn còn có thể ghi 'tác phẩm' của mình ra đĩa DVD. Với Liquid Edition Pro, tính năng ghi đĩa DVD/VCD/SVCD được tích hợp ngay trên khung thời gian (timeline) dựng phim nên tạo đĩa DVD là 'chuyện nhỏ'. Kèm theo phần mềm Liquid Edition 5.6 là phần mềm HollywoodFX Plus, TitleDeko, hơn 40 bộ mẫu tạo menu đĩa DVD và hơn 1.000 kỹ xảo thời gian thực. Trong đó có cả thư viện các kỹ xảo chuyển động 2D (invert, crop,

     

     

    roll/crawl, multishape crop, multishape PIP, multishape spotlight), kỹ xảo chuyển cảnh (cross dissolve, gradient wipe, base color correction, color correction, brightness,  contrast), hiệu ứng key (chroma key, luma key), hiệu ứng lật trang và các hiệu ứng đặc biệt (lens flare, blur, spotlight, posterize). Đặc biệt, Liquid Edition Pro còn giúp bạn tự thiết kế ra những kỹ xảo 3D 'không đụng hàng'.

    Ths. Quang Duy

     

     

    Sony DCR-DVD300 _DVD HANDYCAM

     

      Sony DCR-DVD300

    Giá: 900 USD
    Nhận xét: Mặc dù có khả năng quay thẳng ra DVD nhưng quá trình thực hiện còn vụng về.

    Cơ chế hoạt động thật hấp dẫn. Hình ảnh video được ghi lên DVD đặt trong máy quay, và sau đó, bạn có thể lấy đĩa và đặt ngay vào đầu DVD để xem lại. Nhưng thực tế thì không nhanh đến vậy.

    Bước đầu, DCR-DVD300 Handycam rất hứa hẹn song công nghệ này vẫn cần cải thiện thêm. Bên cạnh Sony còn có mẫu máy Hitachi DZ-MV350E/380E (bài 'Quay và xuất trực tiếp trên DVD', TGVT A 3/2004) và Panasonic VDR-M30 cũng dùng đĩa miniDVD.

    Quá trình ghi lên DVD trơn tru nhưng bạn lại mất khá nhiều thời gian để chờ máy hoàn tất các tác vụ. Máy quay MiniDV thông thường có thể sẵn sàng ghi gần như tức thời sau khi bạn đưa băng mới vào nhưng với DVD-300, bạn cần chờ khoảng 30 giây để máy khởi tạo đĩa. Sau khi hoàn tất giai đoạn quay, bạn phải chờ máy đóng đĩa (finalize) trong vòng 10 phút thì mới có thể  xem đuợc 'đứa con tinh thần' của mình trên đầu DVD.


      Hình 4

    Bạn có thể cầm gọn máy trong lòng bàn tay mặc dù hơi lớn và nặng (788g). Hệ thống nút điều khiển và trình đơn của máy dễ truy xuất, bố trí hợp lý. Thời gian dùng pin của máy thuộc loại ngắn nhất, dài chưa đến 1 giờ.

    Đĩa MiniDVD (hình 4) vẫn còn hiếm nhưng bạn có thể mua với giá 5 USD/đĩa và 13 USD/đĩa RW; mắc hơn băng MiniDV (giá khoảng 3USD/đĩa).

    SONY DCR-HC20 MINIDV _HANDYCAM

         Sony DCR-HC20

    Giá: 450 USD
    Nhận xét: Vừa thời trang, nhỏ gọn, giá rẻ vừa thoải mái và dễ dùng.

    Nặng chưa đến 500g và dài khoảng 5x9x11 cm, HC20 xứng đáng là máy quay MiniDV nhỏ nhất nhóm.

    Với dây đeo thoải mái, thân máy bầu, HC20 nhanh chóng trở thành một vật dụng thân thuộc trong tay bạn. Kiểu nút bấm chọn chế độ quay/phát kiểu gạt xoay được nhiều người thích vì thao tác nhanh. Mặc dù nhỏ nhưng thao tác điều khiển các chức năng bên ngoài cũng không gặp vấn đề khó khăn gì. Phím điều khiển zoom nhỏ nhưng hoạt động trơn tru. Các phím điều khiển còn lại được Sony chuyển vào trình đơn trên màn hình LCD cảm ứng. Màn hình cũng có khả năng bật ra, xoay về phía trước và rộng đến 2,5'. Hệ thống hoạt động rất tốt, phần lớn nhờ cây trình đơn điều khiển hợp lý và biểu tượng lớn. Bạn hoàn toàn có thể điều khiển dễ dàng chỉ với bàn tay trái.

     
        Sony DCR-IP1

    Mặc dù chất lượng hình ảnh của HC20 không thuộc hàng cao nhất song vẫn đủ dùng cho mục đích hàng ngày. Chế độ quay đêm hơi hạt và thiếu chiều sâu. Điểm gỡ lại, pin của máy có thể làm việc trong 2 giờ 8 phút.

    SONY DCR-IP1 MICROMV_HANDYCAM

    Giá: 950 USD
    Nhận xét: Phù hợp với người dùng chú trọng đến kích cỡ, DCR-IP1 mắc hơn máy quay  MiniDV cùng loại gần hai lần. Băng thì lại khó tìm và mắc.

    Sony DCR-IP1 là mẫu máy nhỏ nhất với kích thước 5x10x6 cm. Nhưng cũng vì kích thước quá nhỏ nên cảm giác cầm máy khó khăn và thỉnh thoảng ngón tay cầm dính vào ống kính.

    IP1 cũng dùng hệ thống trình đơn cảm biến như Sony DCR-HC20 nhưng màn hình nhỏ hơn nên có thể xảy ra hiện tượng chọn sai đối tượng.

         Hình 5

    Nhìn chung, việc truy xuất trình đơn tốt và màn hình được gắn vào trục xoay cứng cáp.

    IP1 quay video đẹp mặc dù phim đã được nén dưới định dạng MPEG-2 trên băng MicroMV (hình 5). Băng MicroMV khá mắc: giá khoảng 10 đến 12 USD cho một băng 60 phút.

    Xét tổng thể về mặt giá thành và mức phổ biến của băng thì IP1 không thuyết phục. Máy chỉ phù hợp với người dùng thực sự lưu tâm đến sự nhỏ gọn của máy quay.

    Duy Khánh
    PC World Mỹ 6/2004

    ID: A0407_96