• Thứ Hai, 06/06/2005 08:16 (GMT+7)

    Digital Rights Management (DRM) - Quản lý bản quyền số

        Định nghĩa: Digital rights management (DRM) liên quan đến việc kiểm soát và bảo vệ quyền sở hữu tài sản trí tuệ số (nội dung), gồm tài liệu, hình ảnh, video và âm thanh. DRM hạn chế những gì người dùng có thể làm với nội dung này cho dù họ là chủ sở hữu.
    Bảo vệ thông tin có giá trị không bị sử dụng sai, đánh cắp hay vi phạm bản quyền đang là một vấn đề gây nhiều tranh cãi và liên quan đến nhiều quy định luật pháp, công nghệ cũng như kỳ vọng của nhiều người.
        Với rất nhiều kênh phân phối và lưu trữ mới hiện nay như DVD, mạng ngang hàng chia sẻ tập tin..., thì khống chế về mặt vật lý cũng như quy tắc truyền thống không còn có thể áp dụng được.
        Để tìm hiểu tại sao việc quản lý bản quyền số lại gây ra quá nhiều sự bất đồng, chúng ta hãy xem xét từng vấn đề sau.

    SỐ

        Khi thông tin còn hoàn toàn ở dạng tín hiệu tương tự (Analog), việc xuất bản và phân phối đòi hỏi phải có phương tiện vật lý: in trên giấy, ghi vào đĩa nhựa hay băng từ, hoặc ghi lên phim.
        Sản xuất các vật liệu này tương đối đắt tiền. Tuy luôn có thể tạo các bản sao analog nhưng việc này thường phức tạp, chậm và tốn kém; hơn nữa chất lượng của bản sao còn bị suy giảm. Những hạn chế về kinh tế và kỹ thuật này đã bảo vệ các nhà xuất bản tránh khỏi tình trạng phổ biến bất hợp pháp. Trong trường hợp bạn cần thêm một bản thứ hai thì cách đơn giản và rẻ nhất là mua thêm một bản.
        Công nghệ số đã làm thay đổi mọi thứ. Ngày nay, hầu hết thông tin từ báo chí cho đến phim ảnh đều có ở dạng số. Bạn có thể dễ dàng và nhanh chóng tạo một bản sao hoàn hảo như dữ liệu gốc. Chi phí cho việc sao chép này gần như không đáng kể mà lại không làm thay đổi hay hư hỏng bản gốc.
        Tình trạng đánh cắp số đối với phần mềm xuất hiện vào những năm 70, khi Microsoft phát hiện người ta tạo những bản sao của băng giấy chứa chương trình Basic mà không trả tiền. Nạn sao chép lậu phần mềm vẫn đang là một vấn nạn và Microsoft là một trong những công ty đang tích cực chống lại.
        Đối với thông tin số, Internet đã loại bỏ nhu cầu bán và chuyển các đối tượng vật lý như sách, báo, đĩa mềm, băng từ, CD. Với mạng tốc độ cao và sự phổ biến của băng thông rộng, chúng ta có thể gửi nội dung số đi bất kỳ nơi đâu trên thế giới gần như tức thời với giá không đáng kể.

    BẢN QUYỀN

        Luật về bản quyền, sáng chế và bí mật công nghệ mang lại một số đặc quyền cho những người nắm giữ chúng, cho phép họ chia sẻ, bán hay nắm giữ thông tin trong một khoảng thời gian. Luật pháp và thông lệ cũng xác định những gì người dùng có thể làm đối với thông tin mà họ mua. Ví dụ, nếu bạn mua một cuốn sách hay băng nhạc, bạn có thể đọc hay nghe, trao đổi với bạn bè, tạo bản sao hay dùng bản gốc trên một máy khác (ví dụ máy nghe nhạc trên xe hơi). Bạn cũng có thể mua sách hay CD đã dùng rồi với giá rẻ hơn. Thư viện thì có thể cho hàng ngàn người đọc mượn sách.
        Tuy nhiên, bạn cũng không được làm một số điều. Bạn không thể thay đổi và bán tác phẩm đã sửa đổi này như là tác phẩm của chính mình. Bạn không được sao chép và bán những bản sao này. Bạn cũng không thể sử dụng thông tin từ những tác phẩm này vào những thứ của bạn mà không được phép. Bạn không thể thu tiền của những người xem DVD của bạn.
        Nội dung số cũng tạo ra một số quyền mà sản phẩm analog không có. Ví dụ, bạn có thể mua một bức không ảnh về một địa điểm nào đó hay cũng có thể mua ảnh vệ tinh ở dạng số. Ảnh vệ tinh bị giới hạn về kích thước và mức độ hiển thị các chi tiết nhỏ nhất, tuy nhiên nếu trả thêm tiền thì bạn có được hình ảnh với độ phân giải cao hơn.

    QUẢN LÝ

        Tất nhiên, chúng ta có thể dưa ra những chính sách bản quyền hết sức khắt khe. Ví dụ, nếu bạn mua một cuốn sách điện tử, bạn có thể bị những giới hạn sau: chỉ có thể đọc trên một máy duy nhất; không thể tạo bản sao dự phòng; không thể cho bạn bè mượn; bạn chỉ có thể đọc cuốn sách này một số lần mà thôi hay trong một khoảng thời gian nhất định trước khi hết hạn và bạn cũng không thể in nó ra.
        Trong làn sóng 'dùng chùa' của các mạng ngang hàng như Napster và sự giảm sút doanh thu CD, một số nhà xuất bản đã đưa ra các dịch vụ thương mại phân phối nhạc trực tuyến. Với phí đăng ký hàng tháng, bạn có thể tải xuống nghe một số bài nhạc trong danh mục của họ. Tuy nhiên, bạn vẫn gặp phải những trục trặc: nếu quên trả phí hàng tháng bạn sẽ không thể nghe được bất kỳ bài nhạc nào mà bạn đã trả phí và tải xuống. Có thể bạn chỉ được nghe bản nhạc trong một thời gian đã quy định trước. Bạn không thể ghi bản nhạc này lên CD hay sao chép sang máy nghe nhạc MP3 cầm tay. Trong khi đó, nếu mua đĩa CD thì bạn hoàn toàn không gặp phải những hạn chế này.

        Microsoft đã đưa công nghệ DRM vào các bộ sản phẩm Windows Server 2003, Office 2003 và bổ sung cho Internet Explorer. Điều này sẽ cho phép người dùng chủ động cấp quyền mở tài liệu Word hay e-mail trong Outlook cũng như quyền được phép in, sao chép hay gửi tiếp cho người khác.

    CÔNG NGHỆ DRM

        Đánh dấu số (Digital Watermarking) là một dạng Strganography (kỹ thuật giấu tin), trong đó bản quyền số và thông tin nguồn được giấu ngay trong tập tin tài liệu, hình ảnh hay âm thanh mà người dùng không biết, nhưng những bản sao (kể cả dạng analog) sẽ vẫn có những thông tin này. Kỹ thuật này không nhằm chống lại việc sao chép lậu hay khống chế việc sử dụng nhưng lại cho phép chứng minh tác giả và lần theo dấu vết của các bản sao để tìm ra người sở hữu ban đầu.
        Chống sao chép về mặt vật lý liên quan đến việc sở hữu tài sản vật lý hay cần có phần cứng gắn vào máy tính người dùng. Phương pháp này xuất hiện vào những ngày đầu của máy tính IBM PC dưới hình thức đĩa mềm được định dạng đặc biệt phải có trong ổ đĩa thì chương trình mới chạy được. Sau đó một loại khoá cứng chuyên dụng (dongle) được dùng gắn vào cổng song song hay nối tiếp của máy tính; tiếp đó là sự xuất hiện của thiết bị USB hay thẻ thông minh. Phương pháp này được áp dụng cho những loại phần mềm đắt tiền như AutoCAD, tuy nhiên lại liên tục gặp thất bại trên thị trường hàng tiêu dùng. Những hướng tiếp cận khác có thể là thiết kế định dạng không chuẩn để đánh lừa phần cứng chuẩn. Cuối cùng, bảo vệ về mặt vật lý đôi lúc gây ra trục trặc nghiêm trọng về tính tương thích.
        Mã hoá dựa vào chứng nhận liên quan đến việc mã hoá nội dung cùng với việc phân phối riêng khoá hay chứng nhận, thường là do một bên thứ ba đảm nhận. Phim DVD được mã hoá tuỳ theo vùng địa lý mà nó được bán; nếu bạn mua phim ở châu Âu thì không thể xem trên một đầu DVD chuẩn ở Mỹ. Tuy nhiên, hình thức bảo vệ này rất yếu về mặt công nghệ vì đầu máy DVD có sẵn mạch giải mã vùng.
        Phương thức kích hoạt sản phẩm ược Microsoft tiên phong, đầu tiên là với Microsoft Reader, sau đó là Windows XP và Office XP. Mỗi sản phẩm có một mã định danh và phải được đăng ký với nhà sản xuất trước khi có thể chạy trơn tru. Quy trình kích hoạt còn sử dụng thông tin về các thành phần và cấu hình máy tính của người dùng.

    XRML, NGÔN NGỮ CHO DRM

        Extensite Right Markup Language (XRML) được thiết kế để hiện thực việc hỗ trợ sở hữu trí tuệ số trong thương mại điện tử. XRML cho phép nhà phát triển thực hiện những việc sau: mô tả quyền hạn, chi phí và điều kiện kết hợp với nội dung đã cho. Xác định quyền sử dụng ở dạng rõ ràng, dễ hiểu bằng các thuật ngữ đã được chuẩn hoá. Tăng cường những chuẩn khác để xác định chữ ký số, định danh số, siêu dữ liệu nội dung... trên nhiều hệ thống và ứng dụng khác nhau. Đánh dấu số toàn bộ nhãn XRML. XRML xác định việc sử dụng các hạng mục ở dạng bản quyền và giao dịch. Bản quyền được kết hợp với sản phẩm số và mô tả ở dạng ngôn ngữ máy. Bản quyền bao gồm việc sao chép, đóng dấu, sử dụng tạm và trích dẫn trong một sản phẩm khác. Giao dịch xác định loại kho chứa nào người dùng được phép sử dụng tương ứng với quyền của họ.
        XRML vốn được phát triển tại Trung Tâm Nghiên Cứu của Xerox trong một dự án trước đây có tên là Ngôn Ngữ Bản Quyền Số (Digital Property Rights (DRM) Language) và chuyển cho một công ty mới chuyên về DRM là ContentGuard (Maryland, Mỹ). Tuy chưa phải là chuẩn hoàn chỉnh, XRML đã được chấp nhận như là cơ sở cho Ngôn Ngữ Thể Hiện Bản Quyền (Rights Expression Language), Bản Quyền Mở Sách Điện Tử (Open eBook Rights) và  Nhóm Quy Định Thực Hiện (Rules Working Group) do tổ chức MPEG đề xuất. XRML cũng đang được Tổ Chức về Chuẩn và Cấu Trúc Thông Tin (Organization for the Advancement of Structured Information and Standards) xem xét.
    Thông tin chi tiết có thể tham khảo tại
    www.xrml.org

    Computerworld

    ID: A0307_95