• Thứ Năm, 01/09/2005 10:33 (GMT+7)

    Quality of service

    Định nghĩa: Chất lượng dịch vụ - Quality of service (QOS) – là một chỉ số đo lường khả năng kiểm soát và phân bổ băng thông mạng để cung cấp mức dung lượng dữ liệu trong khả năng dự kiến, dựa trên tầm quan trọng của quá trình nghiệp vụ.

    OS là khái niệm đã có từ vài năm nay. Tất nhiên, sẽ có người nói rằng không cần phải có QOS mà chỉ cần hợp đồng dịch vụ bạn vẫn có thể đạt được điều mình muốn.

    Khi lưu lượng thông tin quá lớn, chức năng cân bằng tải có thể giúp chuyển hướng dòng thông tin sang server khác và giảm bớt tình trạng tắt nghẽn cổ chai. Một vài bộ chuyển mạch có khả năng phân biệt được dòng thông tin, ví dụ giao thức truyền tập tin FTP, giao thức siêu văn bản HTTP Web mà chúng ta vẫn thường dùng và chuyển hướng chúng theo những quy tắc đã được định trước. Hiệu quả sử dụng mạng được cải thiện rất tốt, tuy nhiên thực chất ở đâu?

    QOS cho phép các nhà quản trị điều khiển dòng thông tin ở mức độ căn bản hơn, xác định phương thức để dòng thông tin của một ứng dụng nào đó đi qua các bộ định tuyến và chuyển mạch của mạng.

    Tuy nhiên, QOS còn liên quan đến nhiều yếu tố khác chứ không chỉ là việc quyết định dòng thông tin nào sẽ đi qua cổng nối (gateway) trước tiên. Nó là nền tảng cho chính sách vận hành mạng, một chính sách sẽ xác định cách thức sử dụng tài nguyên mạng trong những điều kiện đặc biệt với mức băng thông được phân bổ. Nhà quản trị mạng có thể cung cấp dựa vào giá trị nghiệp vụ của dòng dữ liệu – ví dụ cấp quyền ưu tiên cho giao dịch mua bán cổ phiếu cao hơn yêu cầu thông tin.

    Các chính sách cũng có thể nhận biết một vài dòng dữ liệu có thể thay đổi về dung lượng và tầm quan trọng vào những thời điểm khác nhau. Ví dụ, dòng thông tin bán hàng có thể có mức ưu tiên cao hơn của kế toán ngoại trừ những thời điểm vào cuối mỗi quý khi mà bộ phận kế toán phải tính toán và làm báo cáo.

    Định nghĩa về chính sách tuỳ thuộc vào các chuẩn QOS hiện có. Giao thức đặt trước tài nguyên Resource Reservation Protocol (RSVP) cho phép một ứng dụng thông báo cho bộ định tuyến và chuyển mạch về yêu cầu QOS của tác vụ truyền nào đó – băng thông, thứ tự gói tin đi và độ trể. Tuỳ thuộc vào những yêu cầu này và các chính sách đã được thiết lập cho các bộ định tuyến trên đường truyền mà tài nguyên sẽ được dành riêng hay từ chối cho tác vụ truyền đó.

    RSVP tách riêng tài nguyên mạng cho dù chúng hoàn toàn không được dùng hết. Điều này tốt cho những ứng dụng như điện thoại vì chỉ cần mất một vài gói tin thì việc truyền sẽ không còn ý nghĩa.

    Chuẩn 802.1p cho phép phần đầu (header) của thông điệp xác định QOS của gói tin, điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các ứng dụng có yêu cầu khắt khe về thời gian như hội nghị qua video.

    Công nghệ phân lập dịch vụ Differentiated Services (DiffServ) sẽ đọc header của gói tin để xác định mức QOS mà thông điệp cần có. Hầu hết việc truyền thông hiện nay đều ở dạng "best effort", nghĩa là không có sự bảo đảm mà chỉ là hứa hẹn sẽ chuyển thông điệp càng nhanh càng tốt. Điều này sẽ không hiệu quả nếu như bạn đang cố hoàn tất một giao dịch mua bán trong khi những người khác thì lại đang kiểm tra thư điện tử.

    DiffServ cho phép thay đổi mức dịch vụ của các ứng dụng khác nhau trên cùng mạng tại cùng thời điểm. Một chính sách có thể bảo đảm rằng ứng dụng kinh doanh được ưu tiên hàng đầu về tốc độ và chất lượng truyền; những gì còn lại sẽ phân bổ cho các ứng dụng khác.

    Công nghệ Common Open Policy Service được dùng để trao đổi thông số QOS giữa các thiết bị. Do có quá nhiều chuẩn nên đã gây nên tình trạng lúng túng về việc chọn chuẩn để hỗ trợ cho thiết bị và phần mềm quản trị. Cisco, Nortel Network và 3Com, tất cả đều làm phần mềm quản trị chính sách nhưng chỉ chuyên biệt cho phần cứng của họ.

    Trong Windows 2000, Microsoft hỗ trợ các chuẩn QOS và cũng có kèm sẵn các giao diện lập trình ứng dụng (API) để có thể hiện thực QOS; phiên bản 2.0 của CiscoWorks 2000 cũng hỗ trợ QOS.

    Ngoài ra, chuẩn mạng có tính năng thư mục (Directory Enabled Network-DEN) cũng cho phép các ứng dụng – kể cả dữ liệu QOS – và người dùng với tài nguyên mạng lưu thông tin trong một thư mục để các ứng dụng, thiết bị và dịch vụ khác có thể truy cập.

    Một rào cản khác quan trọng hơn đối với việc hiện thực QOS là các nhà cung cấp dịch vụ cần phải thoả thuận được với nhau về chuẩn sử dụng và cách thức hiện thực chúng. Tuy nhiên, điều cản trở lớn nhất có thể là QOS không cần đối với mạng cục bộ (LAN), nơi mà băng thông là rẻ và việc chuẩn bị tương đối dễ. Tuy nhiên, với những ứng dụng "ngốn" băng thông như thoại và video liên tục, QOS sẽ ngày càng có ý nghĩa quan trọng hơn.

    QOS cũng dành cho Website

    QOS khởi đầu như là cách thức để kiểm soát băng thông mạng nhưng QOS toàn diện đòi hỏi các nhà quản trị công nghệ thông tin phải mở rộng khái niệm này cho tốc độ của ứng dụng.

    Sự quan tâm ngày càng nhiều đối với các chuẩn mở của mạng sẽ đặt ra những thách thức mới, cao hơn cho QOS. Khách hàng muốn rằng các ứng dụng Internet của họ cũng sẽ có tốc độ như các ứng dụng dùng trong nội bộ.

    Đối với ứng dụng Web, người ta thấy rằng sự chậm trễ thường là do server hơn là do mạng; cứ 10 giây chậm trễ thì 2 giây do mạng, 8 giây do server.

    WebQOS 2.2 của HP được phát hành vào tháng 07/2000 cho HP-UX, Windows NT và Windows 2000, gán quyền ưu tiên cho các phiên duyệt Web dựa trên các hoạt động giao dịch. Khi lưu lượng truy cập site tăng đột ngột, quyền ưu tiên sẽ được tự động chuyển từ các phiên duyệt Web sang những giao dịch tạo ra doanh thu. Thử nghiệm cho thấy việc điều khiển tốc độ trên Web site làm tăng trung bình 40% số giao dịch hoàn tất, vào giờ cao điểm. Giá WebQOS 2.2 cho Windows NT, Windows 2000 là 8.000 USD; bản trên HP-UX, Solaris là 12.000 USD.

    Computerworld

    ID: A0108_72