• Thứ Năm, 02/03/2006 09:18 (GMT+7)

    Âm thanh số - Cơn dậy sóng mới

    Creative lại một lần nữa chứng tỏ vai trò tiên phong trong lĩnh vực âm thanh số khi đưa ra nền tảng âm thanh mới mang tính đột phá: X-Fi. Dòng card âm thanh X-Fi qua thử nghiệm đã dễ dàng qua mặt những chip âm thanh hiện tại, mở ra khả năng mới về xử lý âm thanh số.

    Im ắng nhất trong các thành phần PC, card âm thanh rời trong vài năm qua không thấy "nhúc nhích" đáng kể nào. Trở về cuối những năm 90, thời gian được xem là giai đoạn cách mạng hóa âm thanh số trên PC: Creative đưa ra công nghệ EAX trong dòng card Live! Aureal có công nghệ A3D 2.0 trong dòng card Vortex 2, còn QSound có Q3D, trong khi Sensaura cũng đưa ra công nghệ âm thanh mới, tiêu biểu là trong card âm thanh WaveForce của Yamaha (QSound và Sensaura không sản xuất chip âm thanh mà bán công nghệ lại cho các hãng khác)... Nhưng cho đến nay, hầu như Creative vẫn giữ thế thượng phong trên chiến trường này.

    Bên cạnh xu hướng đưa ra giải pháp card âm thanh hoàn chỉnh, hướng chip âm thanh tích hợp cũng được chăm chút hơn. NVIDIA đã giới thiệu chip nForce hướng đến game thủ, tiêu biểu nhất là hệ game console Xbox và một số bo mạch chủ dùng chipset nForce sử dụng chip audio này. Quen thuộc nhất trong chip audio tích hợp là chip của Realtek (mới nhất hiện nay là ALC882) hỗ trợ âm thanh lên đến 8 kênh analog (7.1) và có những chỉ số đáng khâm phục. VIA đưa ra chipset cộng thêm chip âm thanh Envy24 tích hợp cũng đủ thỏa mãn người dùng phổ thông. Ngoài ra, còn có rất nhiều chip và công nghệ xử lý âm thanh như: ESS của Canyon3D, Crystal của Cirrus Logic, Thunderbird của VLSI, công nghệ của M-Audio, Trident, SonicBlue, Xitel... (xem bảng 1). Để hiểu rõ hơn về các công nghệ mã hóa, giải mã âm thanh và các thông tin liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tại ID: A0302_41, A0409_109, A0212_46.

    Nhưng vào giữa năm nay (7/2005), Creative lại một lần nữa chứng tỏ vai trò tiên phong trong lĩnh vực âm thanh số khi đưa ra nền tảng âm thanh mới mang tính đột phá: X-Fi. Và dòng card âm thanh X-Fi qua thử nghiệm đã cho những chip âm thanh hiện tại "ngửi khói", mở ra khả năng mới về xử lý âm thanh số mà các công nghệ âm thanh trước chỉ mơ ước. Vậy tại sao X-Fi đạt được điều đó?

      BẢNG 1  
      Realtek ALC882     VIA Vinyl Envy24     NVIDIA nForce  
      5 bộ giải mã stereo DAC 24-bit, 44,1k/48k/96k/192kHz     8 kênh nhập/xuất analog và số     256 đường tiếng 2D  
      3 bộ giải mã stereo ADC 24-bit, 44,1k/48k/96kHz     hỗ trợ mức cao nhất ở 24-bit/192kHz     64 đường tiếng 3D  
      khả năng phát cùng lúc 10 kênh DAC 7.1 ở mức 16/20/24-bit PCM           xuất ở mức cao nhất 24-bit/48kHz  
      I/O S/PDIF hỗ trợ mức 16/20/24/32-bit     I/O S/PDIF ở mức 96kHz     không có giao tiếp S/PDIF  
      tương thích: EAX 1.0/2.0, DirectSound 3D, A3D     tương thích: DirectSound     hỗ trợ EAX1, EAX2, I3DL2, DirectSound3D, ASIO và OpenAL  

    NHỮNG CON SỐ ĐỘT PHÁ

    Kiến trúc lõi Audio Ring của X-Fi

     

    Năm 1991, Creative lần đầu tiên đưa ra card âm thanh Sound Blaster Pro được xem là cách mạng âm thanh số thời ấy, cho âm thanh 8-bit, với khoảng 100.000 transistor và có thể thực hiện khoảng 1 triệu phép tính/giây (MIPs – million instructions per second). Tiếp đến là sự xuất hiện của card âm thanh AWE 32 (EMU8000) có 500.000 transistor, khả năng tính toán nâng lên 67 MIPs. Creative tiếp tục với dòng card Live! có 2 triệu transistor, tính toán 335 MIPs và hỗ trợ đa kênh âm thanh. Kế đến là dòng Audigy khá phổ biến hiện nay, có 4,6 triệu transistor, tính toán 424 MIPs và đưa ra một loạt hiệu ứng EAX Advanced HD. Nhưng đến với X-Fi, chip có đến 51,1 triệu transistor và khả năng tính toán lên đến 10.340 MIPs, tương đương với 24 card Sound Blaster Audigy chạy cùng lúc. Creative đặt tên cho chuẩn âm thanh mới này là "Xtreme Fidelity".

    THAY ĐỔI KIẾN TRÚC BÊN TRONG

        Khả năng tính toán của từng thành phần (MIPs)  
        SRC (Sample Rate Convertor)    

    7310

     
        Filter (bộ lọc)    

    200

     
        Mixer (bộ trộn)    

    1210

     
        Tank (bộ hiệu ứng vang)    

    440

     
        DSP (Digital Signal Processing)    

    1180

     
        Tổng cộng    

    10340

     

    Để có được những con số bỏ xa lớp "đàn anh" như trên, Creative đã "cách mạng hóa" ngay từ kiến trúc chip xử lý. Không phải X-Fi có duy nhất 1 engine cực mạnh để có được tính toán trên 10.000 MIPs mà thực chất X-Fi có cả thảy 5 engine riêng biệt cho từng xử lý cụ thể và được gắn kết lại để làm việc thông suốt cùng nhau. Hệ thống liên kết các engine này được Creative gọi là Audio Ring.

    Kiến trúc Audio Ring này giúp cho việc chuyển đổi tín hiệu linh hoạt hơn. Mỗi thành phần có thể lấy tín hiệu âm thanh, xử lý, rồi gửi tín hiệu âm thanh đã xử lý trở về lại vòng tròn. Do đó, dữ liệu có thể được luân chuyển đến bất cứ nơi nào. Audio Ring có thể xem như bus đa luồng, phân chia theo thời gian và hỗ trợ đến 4096 kênh âm thanh.

    Dải tần được mở rộng ra qua công nghệ 24-bit Crystalizer
     

    Trong bảng trên, ta thấy Creative đầu tư cho công nghệ Sample-Rate Convertor (SRC) khá nhiều, chiếm đến 7310 MIPs, khoảng 70% công suất tính toán của chip (10340 MIPs). Công nghệ chuyển đổi này trước đây không được chú ý nhiều, ứng dụng trong việc chuyển đổi từ "độ phân giải" âm thanh này sang độ phân giải âm thanh khác (như từ 16-bit lên 24-bit), hoặc khi ta thêm hiệu ứng cho âm thanh, ví dụ nâng cao độ...

    Qua thử nghiệm của hãng, Creative chuyển âm thanh tần số 997Hz được ghi âm ở 44,1KHz sang 48KHz, kết quả rất thuyết phục với độ biến dạng âm thanh (THD – Total Harmonic Distortion) và nhiễu (noise) ở mức -135dB và mức biến thiên chỉ ở +/- 0,00025dB, tốt hơn cả những đầu chuyển đổi DAC (digital-to-analog converter) tiên tiến hiện nay. Ngoài ra, SRC trong X-Fi còn làm nhiều việc hơn: tạo môi trường giả lập 3D có độ chính xác cao hơn và tái hiện âm thanh trung thực hơn.

    Một engine khác chuyên xử lý các hiệu ứng trễ như reverb, chorus, inter-aural và reflection (dạng hiệu ứng âm vọng, vang) cũng được Creative đưa vào X-Fi là engine Tank. Khả năng xử lý của engine này đạt 440MIPs, cho phép X-Fi có thể thực hiện nhiều phép tính "tại chỗ" mà không phải chuyển dữ liệu sang DSP hay CPU của hệ thống nên giảm được hiện tượng các tiếng lách tách, lì xì do việc truyền tín hiệu.

     

    Cũng vậy, engine Filter được lập trình sẵn để tạo cho người nghe một môi trường 3 chiều thực, xử lý tín hiệu vào ngay tại phần cứng. Với công năng xử lý là 200 MIPs như vậy, engine này sẽ "giảm tải" cho DSP hay ở một bộ xử lý nào khác trong Audio Ring. Kết quả là hiệu ứng giả lập cho headphone sẽ thực hơn... Engine Filter chịu trách nhiệm về các hiệu ứng như reverb, EQ, giả lập 3D, cân chỉnh loa...

    Một engine "cửa ngõ” của cấu trúc Audio Ring là Mixer. Vì X-Fi có tất cả 4096 kênh âm thanh nên Mixer có nhiệm vụ sắp xếp, định tuyến cho các kênh này. Ngoài ra, Mixer còn chia hay kết hợp các kênh âm thanh và gửi trở lại Audio Ring.

    Engine Transport không phải là BXL âm thanh nhưng nó lại có vai trò quan trọng. Nó kết hợp hàng ngàn kênh DMA (Direct Memory Access), ưu tiên xử lý và quản lý các kênh PCI và SDRAM DMA. Các tính toán ưu tiên này được cập nhật liên tục trong mỗi chu kỳ xung nhịp để cho tốc độ thời gian thực dựa trên các yêu cầu về băng thông và độ trễ. Engine Transport hỗ trợ nhiều loại tỉ lệ lấy mẫu, kích thước mẫu và các yêu cầu độ trễ khác nhau. Trước đây, ta thường thấy các BXL đồ họa thường vay mượn bộ nhớ SDRAM vào thiết kế hệ thống đồ họa, thì bây giờ với chip X-Fi cũng vậy, cũng vay mượn SDRAM.

    CHUẨN ÂM THANH X-Fi

       

    CÁC CỘT MỐC ÂM THANH SỐ

     
     

    • 1975 Ghi âm tape tín hiệu số bắt đầu xuất hiện trong các studio chuyên nghiệp. Hãng EMT sản xuất thiết bị tạo hiệu ứng vọng số đầu tiên là Model 250.
    • 1976 Tiến sĩ Stockham của hãng Soundstream thực hiện ghi âm số 16-bit đầu tiên tại Mỹ.
    • 1981 Philips giới thiệu đĩa CD; IBM đưa ra máy tính 16-bit.
    • 1982 Sony đưa ra bộ chuyển đổi PCM-F1 14-bit và 16-bit đầu tiên cho VCR, đánh dấu cuộc cách mạng ghi âm số. Sony cũng đưa ra đầu đọc CD đầu tiên là Model CDP-101.
    • 1983 Cáp quang được dùng để chuyển tín hiệu âm thanh ở khoảng cách xa, từ New York đến Washington D.C.
    • 1990 Dolby đưa ra sáng kiến âm thanh vòng 5.1 dùng cho rạp hát gia đình.
    • 1996 ghi âm ở mức 24-bit/96kHz.
    • 1997 Đĩa DVD-Video xuất hiện, hỗ trợ âm thanh 6 kênh.

     

    Xtreme Fidelity mang trong mình 2 vũ khí mới: 24-bit Crystalizer và CMSS-3D. Hai công nghệ này có chức năng biên tập lại, cải tiến và "trộn" (remix) những âm thanh 16-bit thông thường thành chất lượng âm thanh 24-bit đa kênh cho loa và headphone. Ngay cả những nội dung nhạc, phim theo chuẩn Dolby hay DTS hiện thời cũng được Xtreme Fidelity lọc lại để phù hợp nhất với headphone hay hệ thống loa mà bạn đang sử dụng, cho dù trước đây hệ thống loa này không tương thích với chuẩn Dolby hay DTS (ví dụ phim xuất Dolby 5.1 nhưng bạn có loa 4.1 hoặc 7.1).

    24-bit Crystalizer mở rộng dải tần của âm thanh 16-bit như trong CD hay MP3. Thông thường, ghi âm ở 16-bit, dải tần của âm thanh thường bị thu hẹp, cắt gọn lại, ví dụ âm trầm sâu của tiếng trống, hay âm trung và cao của bộ gõ... không thể hiện đầy đủ. Công nghệ này phục hồi dải tần bị mất, tạo cho âm thanh có không gian hơn, âm sắc của từng nhạc cụ có nét hơn. Tuy nhiên, hiệu ứng này chỉ thích hợp cho một số thể loại nhạc. 24-bit Crystalizer được xử lý trong engine DSP.

    Chế độ Game

     

    CMSS-3D cũng đã từng có trong các phiên bản trước của Creative nhưng với X-Fi, công nghệ này đã được tu bổ, chỉnh sửa lại. Mục tiêu của CMSS-3D là xử lý mọi nguồn âm thanh vào khác nhau để tạo hiệu ứng 3D. Công nghệ này được trang bị 3 thuật toán: cho headphone, cho loa 2 kênh và cho loa đa kênh. Mỗi thuật toán được tối ưu hóa để nhận từ nhiều nguồn âm thanh khác nhau và xuất ra âm thanh đích mà bạn chọn. Tuy vậy, bạn đừng trông chờ chuyện giả lập này có thể sánh với một hệ thống đa kênh thực. Bạn cũng lưu ý là đa kênh chỉ hấp dẫn với phim và game nhiều hơn là nhạc.

    Ngoài ra, theo Creative, chuẩn Xtreme Fidelity còn đảm bảo tính "sạch" của âm thanh và chuẩn phim THX với SNR (signal-to-noise ratio) chỉ ở mức 109dB. Bạn có thể nâng cấp âm thanh MP3 hay CD lên chuẩn Xtreme Fidelity bằng phần mềm chạy kèm với chip X-Fi. Và theo như Creative hứa hẹn, khi MP3 hay CD được nâng lên chuẩn Xtreme Fidelity thì có chất lượng hay hơn cả CD nguyên gốc. Và thực tế, các bản thu MP3 ở chất lượng thấp (khoảng mức 64kbps), so sánh với nhạc CD gốc được, ta thấy bản 64kbps rất trong, rõ và không hề thua kém về chất lượng so với CD gốc.

    Bên cạnh những cách tân trên, Xtreme Fidelity vẫn giữ những đặc tính trước đây của dòng Audigy như: hỗ trợ chuẩn âm thanh 24-bit, công nghệ EAX Advanced HD, phát/ghi âm thanh đa kênh chất lượng cao nhất lên đến 24-bit/96kHz.

     

    MỘT SỐ CÔNG NGHỆ ÂM THANH VÒM PHỔ BIẾN

     
     

    DTS
    Là định dạng âm thanh đa kênh, được viết tắt từ Digital Theater System và được ứng dụng cho các thiết bị sử dụng thông thường và cả cho rạp hát, khán phòng (với mỗi mục đích sử dụng có những kỹ thuật khác nhau, về sau công nghệ này sử dụng bộ nén ADPCM truyền thống, còn trước đây sử dụng bộ nén khác phức tạp hơn). DTS được dùng nhiều trong phim ảnh và DVD. Trong vài năm "sinh tồn", các đĩa quang cũng đã đưa DTS vào thành soundtrack. Công ty đã tạo dựng nên DTS cũng có tên là DTS, và một trong những nhà phát minh ra chuẩn âm thanh này là nhà đạo diễn phim nổi tiếng Steven Spielberg. Một chi tiết thú vị là sau khi làm việc trên nền công nghệ DTS này từ năm 1991, 4 năm sau công ty Dolby Labs đã đưa ra một bộ codec mới là Dolby Digital nổi tiếng hiện nay. Đặc điểm "gốc rễ" của Dolby Digital là âm thanh 5.1 và hỗ trợ kênh siêu trầm (Low Frequency Effects).
    Các biến thể của DTS cũng lần lượt ra đời, và mới nhất là DTS-ES hỗ trợ đến 7 kênh âm thanh. Đối thủ chính của DTS hiện nay là Dolby digital và SDDS (Sony Dynamic Digital Sound) mặc dù chỉ có DTS và Dolby Digital là được ứng dụng trên DVD và các thiết bị giải trí gia đình. Sản phẩm đầu tiên có công nghệ DTS là bộ phim Jurassic Park (công viên kỷ Jura) của Spielberg sản xuất năm 1993. Sau đó đúng 1 năm thì bộ phim đầu tiên ứng dụng Dolby Digital mới ra đời là Batman Returns ("Người Dơi trở lại"). Một điểm nữa là bộ phim "Công viên kỷ Jura" lần đầu tiên được tung ra trên đĩa quang vào tháng 1/1997, sau 2 năm so với bộ phim đầu tiên của Dolby Digital là "Clear and Present Danger" vào tháng 1/1995.
    Để ứng dụng DTS trong rạp hát, thông tin về soundtrack được đồng bộ theo thời gian (time code) dựa trên các đoạn video của phim. Một bộ xử lý DTS nằm trong máy chiếu sẽ dùng time code để đồng bộ hình ảnh trên phim với soundtrack. Các đoạn soundtrack này được ghi âm và lưu theo dạng nén trên đĩa CD-ROM thông thường với tốc độ 1,5Mb/s. BXL này hoạt động cũng giống như một cơ chế vận chuyển, nó đọc soundtrack trên đĩa. Các đoạn soundtrack thường được chứa trên 3 đĩa, 2 đĩa đầu chứa các soundtrack về phim và đĩa thứ 3 là soundtrack về các đoạn trailer và những mục cộng thêm của phim. Các time code cũng có cơ chế nhận diện đoạn video và chỉ chạy được trên đoạn video đó.
    Một số biến thể của DTS
    DTS-ES: có thêm một kênh thông tin cho kênh âm thanh giữa sau (rear center), hoặc 2 kênh mono trong dàn loa 7.1. Điểm đáng chú ý của DTS-ES là có thể tương thích ngược với các hệ thống 5.1. Lý do là kênh âm thanh thứ 6 (rear center) của DTS-ES là một kênh riêng biệt hoàn toàn, có nghĩa là được lưu tách biệt so với 5 kênh âm thanh còn lại và không được "nhúng" vào 5 kênh đó. Do đó, khi DTS-ES hoạt động trên hệ thống loa 5.1 thì hệ thống loa vẫn nhận diện DTS (không phải DTS-ES) như thông thường. So với đối thủ là mã hóa EX của Dolby thì kênh âm thanh thứ 6 của Dolby không lưu theo dạng này nên không có tính tương thích ngược.
    DTS-NEO:6: giống với Pro-Logic IIx của Dolby, chuẩn này chuyển tín hiệu âm thanh stereo thành định dạng 5.1 hoặc 6.1.
    DTS 96/24: cho phép chuyển kênh 5.1 24-bit/96kHz và video chất lượng cao sang định dạng DVD-video. Trước khi chuẩn này ra đời, ta chỉ chuyển được 2 kênh 24-bit/96kHz sang DVD-video.
    DTS HD: trước đây còn có tên DTS++, DTS HD có thể hỗ trợ không giới hạn kênh âm thanh vòm ảo, và có thể thu hẹp xuống 5.1 và stereo. Đây là định dạng mà Dolby chưa bắt kịp, và định dạng này chỉ hướng đến cho đĩa Blu-ray và HD-DVD sắp đến. DTS-HD và Dolby TrueHD là những công nghệ được xem là đem đến độ chi tiết nhất cho âm thanh vòm và chỉ dành cho những định dạng đĩa mới.

    DOLBY DIGITAL
    Là tên thương mại của bộ codec AC-3 do Dolby Laboratories phát minh. Phiên bản thường thấy nhất là hỗ trợ âm thanh 5.1. Tuy nhiên, chuẩn này cũng hỗ trợ ngược cho stereo và mono. Sau đây là một số phiên bản của Dolby Digital.
    Dolby Digital EX: tương tự như chuẩn Pro-logic trước đây của Dolby, ứng dụng công nghệ Matrix để thêm một kênh giữa và một kênh sau cho hệ thống stereo. Còn với hệ thống 5.1 thì EX sẽ "chế biến" thành 6.1 hoặc 7.1. Tuy nhiên, mã hóa này không đem đến được kênh phụ "thực" như của DTS-ES.
    Dolby Surround Sound EX: cũng tương tự như Pro-Logic IIx tạo kênh 6.1 và 7.1 từ stereo (2.0)
    Dolby Digital Plus: là hệ thống mã hóa cải tiến dựa trên codec AC-3. Nó tăng tỉ lệ bit (lên đến 6,144Mb/s) và hỗ trợ nhiều kênh âm thanh hơn (đến 13.1), cải tiến công nghệ mã hóa để giảm độ nhiễu do nén dữ liệu và tương thích ngược với các phần cứng AC-3.
    Dolby trueHD: là định dạng tiếp theo của Dolby, được thiết kế để lưu trữ trên các đĩa định dạng cao (Blu-ray và HD-DVD). Nó có công nghệ mã hóa lossless 100%, lên đến 18Mb/s, hỗ trợ 8 kênh âm thanh, mỗi kênh 24-bit/96kHz (đĩa HD-DVD và Blu-ray chỉ hỗ trợ tối đa 8 kênh âm thanh).

    THX
    Là hệ thống tái hiện âm thanh chất lượng cao dùng cho rạp hát, phòng nghe nhìn, rạp hát gia đình, loa máy tính, game console và hệ thống loa cho xe hơi. Chuẩn âm thanh này do LucasFilm đưa ra vào năm 1993 và lần đầu được áp dụng là trên phim "Return of the Jedi" trong loạt seri Star Wars.
    THX không phải là công nghệ ghi âm, nó cũng không chuyên cho một chuẩn âm thanh nào. Các chuẩn âm thanh số (Dolby Digital, SDDS) và chuẩn âm thanh analog (Dolby RS, Ultra-stereo) có thể được thể hiện với THX. THX nói đúng ra là hệ thống đảm bảo chất lượng âm thanh. Ví dụ nếu nhà sản xuất phim "trộn" soundtrack của họ ở THX thì điều này chỉ có nghĩa phim đó được trình chiếu trong rạp sẽ thể hiện đúng như những gì nghe được tại phòng ghi âm. Do đó ta thường thấy rạp chiếu phim nào đó quảng cáo là có chứng nhận THX. THX cũng cung cấp cho các rạp được chứng nhận một thiết bị đặc biệt (bộ phân tần crossover) để các thiết bị tương thích với chuẩn. Một rạp hát được chứng nhận THX phải đáp ứng được về mặt âm học và các đòi hỏi về kỹ thuật riêng, ví dụ tường phải được xử lý tiêu âm, các bức tường không được thiết kế song song...
    Đứng sau LucasFilm, cha đẻ của THX chính là Tomlinson Holman. Chuẩn có tên là THX một phần lấy từ tên của ông, một phần lấy từ phim đầu tiên của Lucas là THX-1138. Tên nguyên gốc là Tomlinson Holmans crossover (từ crossover được hiểu là ký tự X, nhưng về sau đổi lại thành Tomlinson Holmans experiment).
    Hãng THX bắt đầu chương trình cấp giấy chứng nhận chuẩn THX cho các rạp hát gia đình vào năm 2004.
    Nguồn: Wikipedia

     

    KIẾN TRÚC MODULE CỦA X-Fi

    Một nét riêng của X-Fi là sẽ bám "sát sườn" người dùng để đưa ra những chức năng phù hợp nhất, do đó tối ưu được sức mạnh của chip. X-Fi đưa ra 3 chế độ mà người dùng thường sử dụng: Entertainment, Audio Creation và Game. Vì X-Fi được cấu thành bởi nhiều engine nên dựa vào các chế độ này chip có thể truy cập trực tiếp vào engine liên quan. Mỗi chế độ cũng có những tính năng, chất lượng và khả năng xử lý đặc trưng. (xem bảng 2)

      BẢNG 2  
      Chế độ     Game     Entertainment     Audio Creation  
      Tác động khung hình/giây của game         Không     Không  
      Xử lý âm thanh 3D từ phần cứng         Không     Tùy chọn  
      Hiệu ứng môi trường         Tùy chọn     Tùy chọn  
      Phát audio độ phân giải cao     Không          
      Tăng mức hiệu ứng     Không         Tùy chọn  
      Chuyển từ 2 kênh sang đa kênh     Tùy chọn         Không  
      Ghi âm đa kênh     Không     Không      
      Phát MIDI     Không     Tùy chọn      
      Hiệu ứng phần cứng             Tùy chọn  
      Đồng bộ tần số giữa ghi và phát     Không     Không      
      Xử lý độ trễ     Không     Không      
      Xử lý độ chính xác âm thanh     Không     Tùy chọn      

    Với chế độ chơi game, Creative quan tâm hàng đầu đến tốc độ và tỉ lệ khung hình/giây. Do đó, chế độ này cân bằng giữa chất lượng âm thanh và tốc độ xử lý. Bên cạnh đó, việc giả lập được môi trường thực nhất cũng là vấn đề bên cạnh tốc độ, nên Creative "phân luồng" xử lý cho việc tái hiện môi trường ở mức thực nhất có thể mà không ảnh hưởng đến tiêu chí đầu tiên là tốc độ. Việc giả lập môi trường ứng dụng công nghệ EAX (Environmental Audio Extensions) truyền thống và các thuật toán định vị 3D.

     
                         Chế độ Entertainment
     
                         Chế độ Audio Creation

    Ở chế độ Entertainment, nền này cần hỗ trợ mọi định dạng âm thanh. Vì theo Creative, lý do mà người dùng nghe nhạc qua PC là vì các hệ thống nghe nhạc dân dụng không hỗ trợ nhiều chuẩn âm thanh, ví dụ WAV, MP3, DVD-audio... Và ở chế độ này, chất lượng âm thanh là tiêu chí hàng đầu. Không chỉ có vậy, khác với việc nghe trên hệ thống dân dụng, Creative còn tận dụng sức mạnh của PC để tạo cho âm thanh "tốt" hơn bình thường, ví dụ giả lập âm thanh 2 kênh ra 6 kênh, bố trí loa để lọc tiếng ồn... và một điểm nhỏ là chế độ này có giao diện điều khiển đơn giản, giống với một hệ thống nghe nhìn dân dụng: chỉ có nút chỉnh âm lượng, EQ, balance...

    Yêu cầu cao nhất là ở chế độ Audio Creation. Người dùng chuyển qua chế độ này thường để ghi âm, gồm cả việc ghi đa kênh. Đương nhiên mục tiêu đặt ra là bản ghi âm phải càng giống bản gốc càng tốt và hạn chế tối thiểu tình trạng nhiễu trong quá trình ghi âm. Để tạo ra bản nhạc, người dùng có thể biến hóa mọi chuyện, từ việc trộn một số âm thu được, đến việc sử dụng synthesis (bàn phối âm) để giả các tiếng nhạc cụ mà ta không thể thu được từ ngoài hoặc không thể chơi cho ra tiếng đó được. Điều này đòi hỏi nhiều MIDI synthesis và card âm thanh có thể xử lý nhiều track cùng lúc.

    Bạn hình dung như đang nghe 1 ban nhạc trình diễn trước mặt nhưng có một lớp màn vải dày che đi, nhiệm vụ của X-Fi là hạ tấm màn phủ đó xuống, tạo cho âm thanh không còn lu mờ nữa mà trong trẻo hơn, "thực" hơn. Không chỉ có vậy, X-Fi sẽ mở đường rộng hơn cho những tay biên tập audio trên PC qua khả năng xử lý luồng mạnh mẽ, ghi âm đa kênh... Và nhờ guồng máy engine được chỉnh sửa, X-Fi xử lý rất tốt những hiệu ứng và giả lập, mà ấn tượng nhất là giả lập 3D cho headphone. So sánh với các chip xử lý âm thanh khác, X-Fi cho thấy rõ nét hơn sức bật của mình (xem thêm ID: A0512_54). (Xem bảng 3).

      BẢNG 3  
      Chip âm thanh     SB X-Fi Audio     SB Audigy Audio     Realtek AC97 Audio     Envy24 Family Audio (WDM)  
      Tần số đáp ứng (40Hz-15kHz), dB:     +0,02; -0,18     +0,01; -0,08     +0,70; -0,30     +0,05; -0,30  
      Độ nhiễu, dB (A):     -101,5     -86,4     -73,7     -72,0  
      Dải động, dB (A):     101,3     86,2     73,5     71,8  
      Độ méo tiếng, %:     0,0019     0,0049     0,105     0,029  
      IMD + Noise, %:     0,0077     0,020     0,152     0,113  
      Stereo crosstalk, dB:     -98,6     -82,7     -72,1     -54,8  
      Thử nghiệm với công cụ RightMark Audio Analyser 5.5 dạng line-out - line-in, chế độ 24-bit, 96 kHz.  

    Đồng Anh

    Tham khảo:
    • Creative X-Fi whitepaper
    • 3D Sound Surge
    • www.Avsforum.com
    • www.Pcavtech.co
    • www.aes.org

    Từ khóa: Đồng Anh
    ID: A0602_86