• Thứ Tư, 28/02/2007 10:51 (GMT+7)

    Công nghệ của năm qua

    Nhìn lại những công nghệ nổi trội trong năm qua để đặt ra những kỳ vọng cho năm mới. 
     
    Ảo hoá
     

    Năm 2006 được xem là năm mà công nghệ ảo hoá máy chủ bắt đầu xâm nhập cuộc sống. 
     
    Việc chuyển sang hạ tầng ảo trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết với VMware Infrastructure 3 của VMware. Virtuozzo của Swsoft tiếp tục song hành cùng các trung tâm máy chủ dịch vụ khắp thế giới; và nền tảng nguồn mở Xen với Virtual Iron và XenSource đưa ra các sản phẩm ảo hoá toàn diện, hỗ trợ HĐH tốt hơn và có khả năng chạy nhiều máy ảo Windows.
     
     Các hãng như PlateSpin và Vizioncore thì tập trung vào những khoảng trống của bức tranh ảo hoá. PowerRecon và PowerConvert của PlateSpin trợ giúp việc hoạch định và thực hiện chuyển đổi từ hệ thống vật lý sang ảo (P2V), ESXRanger của Vizioncore cung cấp phương thức sao lưu tin cậy cho các máy ảo. Không chịu nhường, VMware cũng đưa ra bộ công cụ P2V và sao lưu. Các hãng lớn chuyên về phần cứng máy chủ thì bận rộn với việc đưa ra giải pháp P2V riêng và tích hợp công cụ quản lý VMware vào cơ cấu quản lý máy chủ của mình.
     
     Kết hợp với sự gia tăng không ngừng tốc độ CPU, ảo hoá đã mở đường cho trào lưu tích hợp trung tâm dữ liệu. Chi phí tiêu thụ điện và làm mát giảm, và khả năng chuyển sang hạ tầng ảo ít tốn kém là động lực thúc đẩy các công ty đầu tư cho việc gom hàng chục server vật lý thành một vài hệ thống chứa máy ảo.

    Về phía phần cứng, AMD và Intel đang nỗ lực đưa ngày càng nhiều tập lệnh xử lý ảo hoá vào CPU, giúp đẩy nhanh việc thực thi ở cấp máy ảo và cho phép hệ thống vật lý chạy nhiều máy ảo hơn. Các thế hệ chip mới sẽ có nhiều khả năng gánh vác ảo hoá hơn, để các hãng phần mềm ảo hoá tập trung vào việc quản lý và bảo mật, đồng thời gia tăng hiệu suất làm việc. Điều này có lợi cho cả hai phía.
     
     Nếu 2006 là năm ảo hoá bước đi (khỏi phòng thử nghiệm), thì 2007 sẽ là năm nó xác lập chỗ đứng. Vừa tiết kiệm chi phí vừa linh hoạt, các công ty sẽ muốn ảo hoá trung tâm hạ tầng CNTT của mình càng sớm càng tốt.
     
    Đa nhân
     

    Đa nhân dần lộ diện và một vụ sáp nhập làm thay đổi ngành công nghiệp, đưa các bộ đồng xử lý và AMD trở lại thương trường.
     
    Ngoại trừ các chip x86 cấp thấp, hầu hết các bộ xử lý dùng cho máy tính để bàn và máy tính xách tay đều chuyển sang 2 nhân (dual core). Cả AMD và Intel đều xác định những tiến bộ về tốc độ BXL trong tương lai sẽ có được là nhờ việc thêm nhiều nhân. Đúng với tuyên bố này, Intel đã đưa ra chip 4 nhân vào cuối năm 2006, và AMD sẽ tiếp bước Intel vào đầu năm 2007.
     
    Tuy nhiên, người dùng có thể thất vọng về mức gia tăng tốc độ mà họ có được với các chip này. Nỗi thất vọng của họ có cơ sở khoa học. Trên các chip đa nhân, từng nhân chạy chậm hơn mức trần 3,4 GHz của các chip Pentium 4 và Athlon. Nguyên nhân là do vấn đề tiêu thụ năng lượng. Nếu xem xét biểu đồ tiêu thụ năng lượng so với tốc độ, bạn sẽ thấy độ dốc thoai thoải ở các tốc độ dưới 3 GHz, vượt qua tốc độ đó thì dốc đứng. Các hãng sản xuất đã dùng 2 nhân có mức tiêu thụ năng lượng thấp dưới ngưỡng này và ghép chúng chung với nhau trên 1 chip. Mỗi nhân hoạt động ở sát dưới 3GHz, nhưng 2 nhân phối hợp với nhau vượt qua được tốc độ này.
     
    Để hưởng thụ tốc độ này, phần mềm desktop (PC và MTXT) phải có khả năng sử dụng các nhân bổ sung bằng cách dùng nhiều luồng tiến trình hay tiến trình đa luồng - chương trình được phân thành nhiều tác vụ riêng biệt (được thực hiện như là các luồng) có thể thực thi trên các nhân khác nhau. Vì vậy, các chương trình đơn luồng - hiện chiếm đa số phần mềm desktop - chỉ chạy trên 1 nhân có tốc độ chậm hơn.
     
    Trên server thì ngược lại, hầu hết phần mềm đã được thiết kế đa luồng, vì vậy việc thêm các nhân mới giúp cải thiện tốc độ ngay. Vì lý do này, các BXL server như Intel Xeon, AMD Opteron, IBM Power và Sun Sparc tiên phong về đa nhân. Ví dụ, cuối năm 2006, Sun đã công bố chip “Rock” 16 nhân. Phải mất một thời gian nữa các BXL desktop mới có thể đạt đến mức này, nhưng điều đó chắc chắn sẽ xảy ra.
     
    Một triển vọng hấp dẫn là khả năng tích hợp giữa các BXL đa năng (như những BXL đang làm việc trên hầu hết máy tính hiện nay) với các chip đồ hoạ chuyên dụng trên card đồ hoạ. Các chip đồ hoạ rất mạnh về khả năng tính toán số thực có thể dùng để hỗ trợ cho CPU. Vụ AMD mua ATI, một trong hai nhà sản xuất chip đồ hoạ hàng đầu, là một cơ sở cho dự đoán này. Thật ra, một hình thức đặc biệt của dạng này đã ra mắt với chip Cell do IBM, Toshiba và Sony đồng thiết kế. Chip này sử dụng một nhân PowerPC được bổ sung với 8 bộ đồng xử lý toán học dành riêng cho các tác vụ multimedia. Chip Cell được sử dụng trong Sony PlayStation 3 ra mắt rầm rộ vào cuối năm 2006 và được hoan nghênh về khả năng đồ hoạ xuất sắc.
     
    Web 2.0
     

    Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về Web 2.0, nhưng hầu hết đều đồng ý rằng nó được tạo nên từ các công nghệ giúp dễ dàng làm việc cộng tác và phá vỡ những “ốc đảo” thông tin, dù đó là các website cá nhân, portal hay hệ thống thông tin doanh nghiệp. RSS trong môi trường doanh nghiệp đã đạt được bước tiến đáng kể trong năm 2006, tạo nên phương thức tập hợp và công bố thông tin tốt hơn; mạng xã hội cũng xâm nhập được vào các công ty. Thành phần thứ ba là tìm kiếm, nó đã thay đổi cách thức tổ chức và phân loại tài liệu.
     
    Hầu hết các website hiện nay đều cung cấp dịch vụ RSS. Điều này có thể dẫn đến tình trạng tiêu phí băng thông mạng doanh nghiệp do nhiều nhân viên đăng ký cùng nguồn tin. Các máy chủ Enterprise RSS của Attensa, NewsGator và KnowNow giải quyết vấn đề này bằng cách tập trung các nguồn tin trên một server. Khi đó tạo nên hiệu ứng mạng xã hội vì các nhân viên có thể xếp hạng và bình luận về các nguồn tin hay chia sẻ chúng trong nhóm làm việc.
     
    Bằng việc hợp nhất wiki và blog, các ứng dụng như Atlassian Confluence, Near-Time, Socialtext và Transaction TeamPage cho phép các nhân viên tổ chức và chia sẻ tri thức và tạo các cuộc thảo luận tương tác. 
     
    Social Platform Enterprise 1.2 cho cái nhìn rõ hơn về tương lai của các nền tảng này. Đây là một giải pháp tuyệt vời giúp doanh nghiệp nhanh chóng xây dựng mạng xã hội có thể mở rộng phục vụ đến hàng chục triệu người dùng, có sẵn các chức năng wiki, gửi tin, xếp hạng và cho điểm... Các hãng cung cấp portal doanh nghiệp truyền thống cũng bắt đầu áp dụng các công nghệ web 2.0, cả BEA Systems và Microsoft đều tích hợp wiki vào nền tảng của mình.
     
    Công nghệ tìm kiếm phân theo 2 hướng. Vivisimo Velocity và các hãng khác, gồm ISYS, Exalead và Siderean tiếp tục gây sức ép lên Google. Trong đó Velocity nổi bật với khả năng phân loại xuất sắc cũng như kho dữ liệu tri thức doanh nghiệp và công cộng. 
     
    Các doanh nghiệp cũng đang tìm những giải pháp tìm kiếm dễ cài đặt và ít tốn kém – việc này IBM có thể đáp ứng với OmniFind Yahoo! Edition miễn phí. Không biết Google sẽ đối phó với thách thức này như thế nào. 
     
    SOA
     

    2006 có thể xem là năm của tích hợp SOA (Service-Oriented Architecture). Nhiều công ty hăm hở áp dụng những giải pháp thuần công nghệ, trong khi các hãng tiên phong về SOA cho rằng việc quan trọng là tổ chức lại công việc theo hướng dịch vụ.
     
    Những vụ sáp nhập và thôn tính diễn ra ào ạt, đây là xu hướng của 2 năm qua và ngày càng tăng tốc. Một số vụ nổi cộm như Mercury Interactive thâu tóm Systinet và rồi bị HP thôn tính, webMethods mua Infravio và BEA mua Flashline... Các hãng lớn giờ có thể cung cấp giải pháp SOA “hoàn chỉnh”, gồm nền tảng phát triển, hệ thống quản lý, điều phối dịch vụ... và có thể có cả hệ thống quản lý qui trình nghiệp vụ – đưa SOA hiện diện khắp nơi trong môi trường làm việc.
     
    Thậm chí, IBM còn nhảy vào cuộc chơi cấp phép sử dụng dịch vụ xây dựng sẵn với việc thôn tính MRO Software và Webify, cùng với việc xây dựng các trung tâm phát triển dịch vụ ở Trung Quốc và Ấn Độ. HP thì đi theo hướng khác, chú trọng đến việc vận hành SOA (Mercury) và quản lý dịch vụ (Talking Blocks). 
     
    Chú trọng đến quản lý là một xu hướng tốt. Nhiều công ty đã bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về siêu dữ liệu dịch vụ, cách dùng nó để giám sát, quản lý và điều chỉnh dịch vụ. Đây là dấu hiệu cho thấy SOA đã trưởng thành.
     
    SaaS
     

    Salesforce.com cho thấy dịch vụ trên web có thể cung cấp các tính năng không thua kém những phần mềm tên tuổi.
     
    Ra mắt vào năm 2003, Salesforce.com đã được tập trung khắc phục những nhược điểm của SaaS (Software as a service), đặc biệt là về khả năng tuỳ biến và mở rộng. Và năm 2006, Salesforce.com công bố tính năng doanh nghiệp mạnh nhất hiện nay: ApexConnect, bộ công cụ tích hợp ứng dụng theo yêu cầu. ApexConnect có thể khởi chạy một sự kiện hay tiến trình ở một hệ thống bên ngoài, bao gồm ứng dụng Oracle hay SAP.
     
    Một tính năng doanh nghiệp khác cũng được Salesforce ra mắt năm qua là AppExchange Mobile, cho phép thuê bao truy cập tới ứng dụng AppExchange bất kỳ (hiện có khoảng 400) từ thiết bị di động. AppExchange, ra mắt năm 2005, là dịch vụ chia sẻ ứng dụng, đưa ra API giao tiếp với Salesforce.com cho các nhà cung cấp ứng dụng khác.
     
    Nếu có ai nghi ngờ về triển vọng của SaaS trong môi trường doanh nghiệp thì nên biết là cả SAP và Microsoft đều đã công bố phiên bản SaaS của các giải pháp CRM của họ.
     
    Lưu trữ
     

    Những vụ sáp nhập cùng với các thoả thuận OEM và liên minh mới vẫn là những sự kiện nổi bật trong năm 2006. Mục tiêu của những vụ sáp nhập, như Seagate-Maxtor, là nhằm tạo ra một nhà cung cấp thống trị, ngoài việc cắt giảm chi phí nhờ hợp nhất các bộ phận nghiên cứu và sản xuất. Ngược lại, các vụ mua bán khác như EMC-Avamar theo đuổi chiến lược “mua chứ không xây”, mục tiêu nhằm thôn tính công nghệ chiến lược.
     
    Thật thú vị, hầu hết các vụ sáp nhập vì mục tiêu công nghệ đều nhằm thâu tóm các công nghệ lưu trữ, lập chỉ mục, tìm kiếm và phân loại dữ liệu. Rõ ràng, dung lượng và tốc độ không còn là các yếu tố quyết định duy nhất trong việc mua sắm của doanh nghiệp, nhưng sẽ là sai lầm nếu bỏ qua chúng.
     
    Thật sự, các hãng SAN và NAS vẫn tiếp tục theo đuổi yếu tố dung lượng, tốc độ và khả năng mở rộng. Một nhóm các nhà sản xuất năng động, gồm BlueArc, Isilon và Panasas đã liên kết với NetApp để cung cấp các giải pháp lưu trữ liên cung nhằm đẩy tốc độ và dung lượng vượt những giới hạn trước đây. 
     
    Trong năm 2007 có thể sẽ xuất hiện những giải pháp lưu trữ định hướng theo yêu cầu nghiệp vụ và ứng dụng, có cơ chế quản lý dữ liệu thông minh thay vì chỉ là tốc độ hay dung lượng cấp phát đơn giản. Đây là bước thay đổi lớn trong lĩnh vực lưu trữ.
     
    Mạng
     

    Năm qua cũng chứng kiến những tiến bộ quan trọng trong việc bảo mật và giám sát mạng nội bộ của doanh nghiệp.
     
    Không giống như những giải pháp trước đây, các giải pháp chuyển mạch hoàn chỉnh của Extreme Networks và HP ProCurve không chỉ có hiệu suất làm việc cao, mà còn có những tính năng và khả năng quản lý cần thiết để làm việc tốt trong môi trường doanh nghiệp. Extreme và ProCurve nêu bật một xu hướng quan trọng: tích hợp phòng chống xâm nhập (IDS - Intrusion Defense System) với các cơ chế bảo mật khác vào hạ tầng chuyển mạch. IDS của HP ở thiết bị switch và dòng thiết bị bảo mật Sentriant của Extreme, cũng như IDS của Cisco cho Catalyst và các switch bảo mật của các hãng mới ConSentry Networks và Nevis Networks bảo vệ mạng một cách toàn diện thông qua phương thức kiểm tra gói tin và kiểm soát truy cập dựa trên chính sách.
     
    Những việc tích hợp tương tự cũng xảy ra trong thế giới không dây. Ví dụ, Trapeze Networks tích hợp hệ thống bảo mật và giám sát của AirDefense vào bộ điều khiển Ring Master Management trong giải pháp WLAN của mình.
     
    Năm qua cũng là năm mà việc giám sát mạng thực hiện một khối lượng tích hợp đáng kể, giúp giảm số màn hình giám sát thoại, video và luồng dữ liệu trên cả mạng LAN dùng dây và không dây. Lịch trình kế tiếp sẽ là ngôn ngữ kết nối tất cả các tài nguyên này với nhau. Theo hướng này, đáng hoan nghênh nỗ lực của tổ chức IETF và XMLConf về những bước đầu tiên trong việc sử dụng XML để quản lý mạng IP và nối mạng thiết bị.
     
    Bảo mật
     

    Các sản phẩm mới đến rồi đi, nhưng những người phụ trách bảo mật vẫn phải tiếp tục công việc. Một vài năm nữa, chúng ta có thể nhìn lại năm 2006 và 2007 như giai đoạn bước ngoặt, khi mà các chuyên gia bảo mật xem xét nghiêm túc về hiệu quả của một số sản phẩm trụ cột trong chiến lược phòng vệ của mình.
     
    Phần mềm chống virus có lẽ bị săm soi kỹ nhất. Ngoài sự tham gia của Microsoft vào thị trường này, Symantec và McAfee còn phải đối mặt với thách thức lớn hơn, đó là nhận định của các chuyên gia bảo mật và bộ phận IT của doanh nghiệp cho rằng phần mềm bảo mật hiện nay đã không còn hiệu quả với malware tinh vi. Cần có những hình thức bảo vệ khác như sử dụng việc phân tích theo hành vi để xác định những máy bị lây nhiễm nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công.
     
    Việc phát hiện và ngăn chặn xâm nhập lại có vấn đề khác. Sau khi đổ hàng đống tiền vào việc triển khai IDS (hệ thống phát hiện xâm nhập) và IPS (hệ thống ngăn chặn xâm nhập) trong những năm qua, các công ty nhận ra họ phải lặn hụp trong hàng đống sự kiện, nhiều khi chỉ là những cuộc tấn công tưởng tượng. Trường hợp của IPS, những người phụ trách bảo mật thận trọng chuyển hệ thống sang chế độ “khoá” vì sợ làm chậm hay làm gián đoạn lưu thông mạng. 
     
    Có một sự thật đen tối: sâu và virus chưa từng thật sự biến mất; Nyxem và Warezov là 2 sâu gây ồn ào trong năm 2006, trong số hàng loạt vụ khác nhỏ hơn. Tuy nhiên, trong năm 2007, sâu có khả năng tự nhân bản sẽ “có tiếng nói” hơn. Các website mạng xã hội như MySpace và Facebook sẽ là những phương tiện tuyệt vời để phát tán malware (chương trình độc hại), và các cuộc tấn công nhiễm vào ứng dụng như trình cài đặt phần mềm chống virus của Symantec hay ứng dụng VoIP Skype sẽ dễ làm người ta mất cảnh giác. Các hệ thống (máy tính) bị lây nhiễm là những bệ phóng vô giá cho những người sở hữu bot hay người gửi spam, và sâu vẫn là cách thức hiệu quả và nhanh nhất để xây dựng mạng tập hợp những hệ thống máy tính bị lây nhiễm.
     
    Nguyễn Lê
    Nguồn: InfoWorld

    ID: A0702_81