• Thứ Sáu, 20/04/2007 10:45 (GMT+7)

    Bản quyền phần mềm 2.0

    Mô hình bản quyền phần mềm cũ đang sụp đổ, gây xáo trộn và mở ra cơ hội cho mô hình mới có thể giúp tiết kiệm chi phí cho người dùng.

    Mô hình bản quyền phần mềm cũ đang sụp đổ, gây xáo trộn và mở ra cơ hội cho mô hình mới có thể giúp tiết kiệm chi phí cho người dùng.

    Người dùng đang chán ngán với cách thức bán phần mềm hiện nay. Một khảo sát gần đây của hãng chuyên về giải pháp quản lý phần mềm Macrovision cho thấy chỉ có 28% doanh nghiệp hài lòng với chính sách bản quyền và giá phần mềm (PM).

    Điều này mở ra cơ hội cho các mô hình mới thay thế, chẳng hạn như mô hình tính phí thuê bao và theo mức sử dụng. Đồng thời, những thay đổi về công nghệ như SaaS (Software as a Service - phần mềm dịch vụ), ảo hoá và bộ xử lý đa nhân càng đẩy nhanh tiến trình thay thế này.

    Lấy ví dụ SaaS. Thường SaaS sử dụng phương thức tính phí theo tháng hay theo số người dùng. Cách này giúp giảm thấp chi phí ban đầu, thậm chí còn giảm được chi phí phần cứng và cài đặt. Theo một nghiên cứu gần đây của Aberdeen Group, hơn phân nửa số công ty tham gia khảo sát đang áp dụng SaaS hoặc đang tích cực tìm hiểu ứng dụng nó.

    Những lĩnh vực khác như ảo hoá cũng đã có mô hình bản quyền thích hợp. Mục đích chính của ảo hoá là cho phép chạy nhiều ứng dụng và nhiều hệ điều hành đồng thời trên cùng một máy tính để khai thác tối đa server. Nhưng ưu điểm đó có thể bị triệt tiêu nếu áp dụng phương thức bản quyền theo từng máy hay bộ xử lý, đây là lý do tại sao cả nhà sản xuất và người dùng đều muốn tìm giải pháp dung hoà.

    Tình hình càng phức tạp hơn khi mà các khách hàng lớn được hưởng những chính sách bản quyền mới dành riêng cho họ trước các đối tượng người dùng khác. Nhiều hãng PM đang trì hoãn việc áp dụng rộng rãi những chính sách này vì sợ sụt giảm doanh thu. Nhưng cuối cùng rồi họ cũng phải thay đổi nếu muốn giữ chân khách hàng ngày càng khó tính.

    Các doanh nghiệp đang nỗ lực cải tiến hiệu suất, điều này có nghĩa họ cần sử dụng một cách tốt nhất ngân sách dành cho IT. Các mô hình bản quyền PM mới có khả năng thực hiện điều đó.

    Dùng theo nhu cầu

    Khảo sát của Macrovision cho cái nhìn khá rõ về sự lựa chọn bản quyền của người dùng hiện nay. Số doanh nghiệp thích mô hình bản quyền vĩnh viễn giảm 7% so với năm rồi, số còn lại thích hình thức thuê bao có thời hạn (tháng hay năm).

    Khảo sát cũng cho thấy các hãng PM đang lắng nghe nhu cầu của khách hàng. Khoảng 40% hãng PM tham gia khảo sát cho biết họ đã cung cấp hình thức thuê bao từ năm 2005, cao hơn con số 33% của năm 2004 và kỳ vọng lên đến 60% trong năm 2007.

     

    Mad Catz, nhà cung cấp thiết bị video-game đang ăn nên làm ra, đã chọn con đường SaaS khi cần đưa ra hệ thống trợ giúp mới. Công ty chỉ có một bộ phận IT nhỏ và kinh nghiệm từ công việc cho thấy có thể cần đến 1 năm để xây dựng hệ thống này, trong khi Mad Catz cần hệ thống hoạt động ngay. Sau khi phân tích, cuối cùng công ty quyết định hợp tác với nhà cung cấp dịch vụ theo yêu cầu Service-now.com.

    Mong muốn giải quyết nhanh một vấn đề nghiệp vụ, như trường hợp Mad Catz, là lý do mà nhiều công ty hiện nay dùng SaaS. Chi phí nói chung được xem xét là yếu tố thứ hai, nhưng hầu hết những công ty sử dụng dịch vụ theo yêu cầu nhận ra họ đã tiết kiệm được chi phí khi tính toán “đầy đủ”, bao gồm việc duy trì giấy phép sử dụng và các chi phí khác liên quan đến PM và cơ sở hạ tầng đi theo.

     

    MUA BẢN QUYỀN, NÊN VÀ ĐỪNG

     
     

    • Đừng e ngại hỏi hãng cung cấp PM xem họ có hình thức cấp bản quyền khác với hình thức mà họ đang chào mời hay không, biết đâu họ có hình thức khác linh hoạt hơn như thuê bao chẳng hạn.
    • Nên xem xét sử dụng công cụ quản lý phần mềm. Công cụ này cho phép giám sát bản quyền PM hiện có, và rất cần thiết khi bạn sử dụng hình thức trả phí PM theo mức sử dụng.
    • Đừng quá tin. Hình thức thuê bao hay trả phí theo mức sử dụng từ nhà cung cấp SaaS nghe hấp dẫn nhưng chi phí phát sinh có thể tăng nhanh. Hãy xác định những thành phần mà bạn thật sự cần trước, rồi bổ sung các dịch vụ khác sau khi có nhu cầu.
    • Nên giám sát phí bảo trì PM, nó có thể vượt quá phí bản quyền. Kiểm tra những chi phí bổ sung có thể chưa lộ rõ.
    • Đừng phản ứng vội. Nên đợi đến khi hệ thống của bạn có thay đổi, như nâng cấp phần cứng, hãng PM sẽ đề xuất bản quyền mới, lúc đó hãy thương lượng các điều khoản và giá.

     

    Chuyển sang đa nhân

    Các BXL đa nhân chắc chắn sẽ làm nên sự đột phá trong vấn đề bản quyền PM như SaaS, mặc dù có thể nó sẽ cần thời gian lâu hơn mới có tác động.

    Các BXL hai nhân đã trở nên phổ biến sau khi Intel và AMD tung ra hàng loạt model. Cả hai công ty cũng đã bắt đầu đưa ra BXL 4 nhân. Chuyên gia nghiên cứu thị trường của IDC dự báo hạ tầng phần cứng của doanh nghiệp có thể sử dụng đến 50% BXL hai nhân vào năm 2008.

     

    Mối quan tâm của hãng PM là các BXL mới sẽ làm giảm doanh thu của họ vì về cơ bản chúng cho phép sử dụng PM nhiều hơn so với BXL 1 nhân. Còn mối quan tâm của người dùng thì ngược lại: chính sách bản quyền mới không tính theo BXL có thể tốn kém hơn.

    Các hãng như BEA Systems và Microsoft đã quyết định giữ cách tính theo BXL, ít ra là với các hệ thống hai nhân. Ví dụ, một server với 2 BXL hai nhân sẽ tính 2 bản quyền.

    Oracle đã đưa ra một chính sách dựa trên cái gọi là “hệ số BXL”: dựa trên số lượng nhân trong BXL để quyết định số bản quyền cần thiết. Một BXL 8 nhân có hệ số 0,25 và cần 2 bản quyền PM; một BXL 4 nhân có hệ số 0,5; v.v...

    Giải pháp của IBM khá phức tạp, áp dụng phương thức gọi là PVU (Processor Value Units). Mỗi BXL được IBM đánh giá năng lực xử lý và sử dụng công thức phức tạp để gắn một con số PVU. Số PVU càng thấp thì chi phí PM chạy trên BXL đó càng thấp.

    Vướng mắc ảo hoá

    Ảo hoá đã qua khỏi giai đoạn phát triển và thử nghiệm, và bắt đầu bước vào môi trường làm việc thực tế. Các hãng nghiên cứu thị trường cho rằng hình thức cấp bản quyền dựa trên ảo hoá sẽ được đưa ra và được các doanh nghiệp lớn áp dụng vào cuối năm 2008. Có 2 cách tính được ưa thích: hoặc tính trung bình của các máy ảo, hoặc tính phần cứng máy chủ.

    Nhưng cũng có người phản đối việc trả nhiều tiền hơn cho môi trường ảo hoá so với môi trường bình thường vì cho rằng đã trả tiền cho phần mềm tạo môi trường ảo. Họ chấp nhận trả tiền cho việc hỗ trợ và các tính năng giúp khai thác hiệu quả môi trường ảo hoá, nhưng không chấp nhận việc trả tiền cho từng máy ảo.

    Một số hãng PM đang cố tìm giải pháp dung hoà. Ví dụ, Microsoft đưa ra phương thức bản quyền cho máy ảo sử dụng cái gọi là “thực thể làm việc” để chỉ ảnh máy ảo, bản cài đặt hay bản sao của PM gốc. Thay vì người dùng phải mua bản quyền cho mỗi thực thể, họ có thể tạo và lưu trữ số lượng không giới hạn các thực thể nhưng chỉ trả tiền cho thực thể nào làm việc trong thời gian nào đó.

    Cần có sự thoả hiệp giữa hãng PM và người dùng để đi đến giải pháp thích hợp, việc này có thể mất vài năm.

     

    QUẢN LÝ BẢN QUYỀN

     
     

    Mô hình tính phí PM theo mức sử dụng cần có công cụ để người dùng “đo đếm” cái mà họ phải trả tiền. Hiện có một loạt giải pháp cho phép doanh nghiệp kiểm soát chi phí PM.
    Altiris License Compliance Suite thu thập dữ liệu về tất cả ứng dụng Windows, giám sát mức sử dụng từng ứng dụng và thông báo cho bộ phận IT khi số lượng cài đặt vượt quá số bản quyền đã mua.
    Black Duck Software protextIP cho phép bộ phận pháp lý của công ty đánh giá các điều khoản bản quyền và những tình huống tranh chấp, thiết lập chính sách sử dụng bản quyền và điều chỉnh bản quyền.
    BMC Software Usage thu thập thông tin chi tiết về mức sử dụng và nơi PM cài trên các máy tính để bàn và MTXT, tự động giới hạn việc sử dụng vượt quá bản quyền.
    Computer Associates Unicenter Asset Management giám sát việc sử dụng PM trên tất cả máy tính và thiết bị client, tự động quản lý bản quyền và báo cáo.
    Engagent Software License Manager cho phép quản lý tổng thể các bản quyền đã cài đặt, bao gồm nơi mua, khi nào, và bao nhiêu bản quyền đã được mua.
    HP License Management Service nhận diện PM được sử dụng ít hơn hay vượt quá giấy phép, những chênh lệch so với hợp đồng bản quyền và ngăn việc sử dụng PM không hợp lệ.
    IBM Tivoli License Compliance Manager liên kết thông tin kiểm kê và sử dụng PM với hợp đồng và chính sách người dùng, hỗ trợ nhiều mô hình bản quyền khác nhau.
    LANDesk Management Suite kiểm tra cả ứng dụng đã biết lẫn chưa biết, tự động ngăn không cho người dùng chạy PM có giấy phép hết hạn.
    ManageSoft Compliance Manager thiết lập thông tin kiểm kê PM ban đầu để làm cơ sở đánh giá mức sử dụng PM.
    Macrovision FLEXnet Manager xác định tính hiệu lực của PM theo thời gian thực, cảnh báo những vấn đề tiềm tàng và báo cáo về mức sử dụng.
    Numara Track It! 7 Enterprise Edition điều hoà giữa bản quyền đã mua và triển khai, giám sát việc xác thực máy trạm để cho sử dụng PM, xử lý các bản quyền hết hạn và sắp hết hạn.
    Palamida IP Authorizer giúp các nhóm phát triển PM trong doanh nghiệp tạo mã lệnh yêu cầu xác thực bằng cách so sánh tự động tên và bản quyền PM với chính sách IP của tổ chức.
    Sassafras Software Key Server phát hiện từng PM, sử dụng những quy tắc khác nhau để so sánh việc sử dụng với các yêu cầu bản quyền, sau đó cho phép một số hành động mặc định hay quản trị.

     

    Nguyễn Lê
    Nguồn: InfoWorld

    ID: A0704_111