• Thứ Hai, 07/12/2009 10:47 (GMT+7)

    “Đa chạm” với Windows 7

    Microsoft kỳ vọng HĐH mới, mặc dù còn một số tính năng chưa hoàn hảo, sẽ khắc phục những nhược điểm mà các HĐH trước vấp phải. Sự ra đời của Windows 7 có thể khiến nhiều người hài lòng hoặc vẫn tiếp tục than phiền, nhưng dù thế nào thì sự cải tiến để hoàn thiện sản phẩm là tiêu chí mà các nhà sản xuất hiện nay đều hướng đến.

    Không rực rỡ nhưng hiệu quả

    Trên danh nghĩa, Windows 7 chính là bản nâng cấp từ Windows Vista, nhưng Windows 7 có một số tính năng được xem là nổi bật so với các HĐH trước đây, tham khảo thêm “Những thứ tốt nhất của Windows 7 trên XP và Vista” (ID:A0909_117).

    Thanh tác vụ (taskbar): các biểu tượng trên thanh taskbar được sắp xếp ngăn nắp hơn so với Vista.

    Xem trước nội dung trên taskbar: Cho phép xem trước cùng lúc tất cả cửa sổ ứng dụng đang mở với giao diện bắt mắt.

    Tính tiện dụng của JumpList: Những trình đơn cảm ngữ cảnh trên thanh tác vụ thậm chí còn cho phép thực hiện một số công việc dù bạn chưa mở ứng dụng.

    Khay hệ thống (system tray): có thêm nhiều tính năng điều khiển mới nên loại trừ được tình trạng quá tải của system tray vì các ứng dụng không dùng đến hay các thông báo “vớ vẩn” thường quấy rầy bạn.

    Windows Media Player 12 thông minh: Với sự hỗ trợ định dạng tập tin mới, Windows Media Player 12 giúp bạn giải trí nghe nhạc, xem phim từ trang trực tuyến của Apple.

    Kiểm soát lời cảnh báo (Action Center): Phiên bản mới của tính năng Security Center trong Vista giúp người dùng có thể quản lý những thông báo gây quấy rầy của hệ thống và xử lý theo lịch trình riêng. Bên cạnh đó, Action Center còn có chức năng nhắc người sử dụng về việc sao lưu dữ liệu, nguy cơ về bảo mật, cảnh báo người dùng nếu hệ thống máy tính có dấu hiệu không ổn định.

    Kiểm soát tài khoản người dùng (UAC – User Account Control): Với Windows 7, có lẽ người dùng sẽ bớt ”khổ sở” với tính năng UAC vì HĐH mới này đã đưa ra 4 cấp độ thiết lập cảnh báo.
    Thư viện: Bạn có thể gom các dữ liệu bị phân tán trên các ổ đĩa cứng tập trung vào trong một thư viện Library để có thể truy cập bằng một cú nhấn chuột.

    Khai thác tính năng đa chạm

    Microsoft đã làm mới hoàn toàn giao diện người dùng kể từ khi chính thức công bố Windows Vista hồi tháng 1/2007, và giờ đây Windows 7 cũng là phiên bản đầu tiên có hỗ trợ tính năng đa chạm. Với đa chạm, bạn chỉ cần lướt nhẹ ngón tay để trượt thanh lên/xuống hoặc phóng to/nhỏ kích thước các tập tin và trang web, hoặc rê thử các biểu tượng trên taskbar để khám phá thêm tính năng mới Jump List. Dù có hỗ trợ thêm đa chạm, HĐH mới này vẫn trung thành với mô hình sử dụng bàn phím và chuột, song song đó Microsoft cũng “ướm” thử màn hình đa chạm - đang được xem là xu hướng của tương lai. Đến thời điểm này, các nhà phát triển phần mềm cũng chưa đẩy mạnh sản xuất hàng loạt các ứng dụng dành cho đa chạm vì họ còn đang chờ đợi những phản hồi từ phía người dùng sau vài tháng thử phiên bản chính thức Windows 7.

    Tuy nhiên một số hãng sản xuất máy tính như Asus, Lenovo, Sony, HP, Dell hiện đã có những dòng sản phẩm dành cho đa chạm.

    Đón nhận Windows 7

    PC World Mỹ (NTN) đã tiến hành thử nghiệm phiên bản cuối cùng của Windows 7. Trong quá trình kiểm tra, NTN nhận định rằng nếu cấu hình máy tính của bạn đủ sức chạy Vista thì có thể cài Windows 7, còn nếu không bạn đừng nên cài đặt. Những yêu cầu về phần cứng để chạy trên Windows 7 hầu như cũng tương tự như Vista: đối với bản 32 bit, CPU tốc độ 1GHz, RAM 1GB, ổ đĩa cứng 16GB, và DirectX 9 tương thích với thiết bị đồ họa chuẩn WDDM 1.0 hoặc cao hơn, còn 64 bit đòi hỏi RAM 2GB, ổ cứng 20GB.

    Một cách tổng quan, Windows 7 cũng không khác biệt lắm so với Vista, nhưng nét mới của nó là đã giảm được đáng kể những trở ngại liên quan đến sự tương thích của các trình điều khiển và ứng dụng khi so sánh với Vista trước đây. Lời khuyên đưa ra, dù phiên bản chính thức đã ra mắt, bạn cứ đợi thêm vài tuần nữa để chờ các bản vá lỗi (nếu có) của Microsoft và những hãng phần mềm, phần cứng. Lúc đó bạn có thể dùng Windows 7 có độ ổn định, an toàn cao hơn.

    Dù thích hay không thích cài đặt Windows 7, bạn cũng nên thử cài đặt để có những trải nghiệm thực tế.

    Vẫn còn những điều cần cải thiện

    Windows 7 đã hoàn hảo ư? Dĩ nhiên là không như thế, dưới đây sẽ liệt kê những việc cần làm cho Windows 8, có thể là phiên bản kế tiếp của Microsoft.

    Cách đặt tên: Không hiểu tại sao cách đặt tên của Microsoft thường gây bối rối hơn là minh định sự việc. Ví dụ, nếu đã có sẵn mục “Device Manager” đã có trong HĐH thì không nên đặt tên cho tính năng mới là “Devices and Printers” vì có thể gây hiểu nhầm.

    Sự thiếu nhất quán trong Windows 7: hầu hết các công cụ đều bố trí trình đơn (menu) bên trái, trong khi trình duyệt web IE8 và mục trợ giúp (Help) lại làm ngược lại? Hoặc tại sao giao diện Ribbon của Office 2007 chỉ xuất hiện trong ứng dụng Paint và WordPad.

    Cập nhật Windows: Windows Update được thiết kế sẵn để để tự động cập nhật các bản vá lỗi cho HĐH nhưng hiện Windows Update vẫn còn “quấy rầy” bạn. Thậm chí khi bạn đã cấu hình để nó tự tải về và cài đặt mà không cần đến sự can thiệp của bạn (như khuyến cáo của Micosoft) thì có lúc nó vẫn thông báo yêu cầu cần khởi động lại máy tính trong lúc bạn đang làm việc hay không cho sử dụng máy tính khi đang cài bản cập nhật.

    Chức năng Federated Search trong Windows 7: cho phép bạn thêm những nguồn bên ngoài như Flickr, YouTube vào trong mục tìm kiếm của Windows Explorer. Tuy nhiên, Windows 7 lại không hỗ trợ bạn tìm kiếm từ những nguồn nói trên và thậm chí cũng không đưa Federated Search vào trong Help.

    Trợ giúp (Help): khi không hiểu về tính năng hoặc trình ứng dụng nào đó, mục Help sẽ là công cụ tiện ích giúp bạn tra cứu để nắm vững vấn đề, nhưng trong Windows 7, một số phần lại chỉ dành cho những người quen dùng điều khiển bằng dòng lệnh (command-line), ngược lại một số khác thì không phù hợp với người dùng mới; một vài phần chỉ dành cho người giỏi về kỹ thuật chứ không phải người dùng bận rộn hay chỉ có kiến thức trung bình.

    Tính năng Backup and Restore Center: cho phép sao lưu và hồi phục dữ liệu mà không đòi hỏi bạn phải dành riêng ổ cứng ngoài để sao lưu toàn bộ hệ thống. Tuy nhiên, việc thực hiện không hề đơn giản và dễ dùng như Time Machine của Apple. Và việc Microsoft quyết định chỉ trang bị tính năng này trên những phiên bản đắt nhất là điều không hợp lý.

    Các phiên bản của Windows 7: Theo lý thuyết, việc Microsoft tung ra nhiều phiên bản của Windows 7 cũng là điều bình thường, tuy nhiên nếu sự khác biệt giữa các phiên bản quá tiểu tiết thì lại làm cho người dùng dễ bị ngộ nhận; ví dụ Windows 7 Home Premium thực chất chỉ là bản Windows 7 Home nhưng phát hành ở thị trường Mỹ.

    Trình duyệt web IE8 được xem là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Firefox và Chrome, tuy nhiên IE8 vẫn chưa có nhiều tính năng thật sự nổi trội.

    Định dạng tài liệu văn bản: giống Vista, Windows 7 cũng cho phép bạn tạo tài liệu độc lập ứng dụng ở định dạng XPS (tương tự định dạng PDF) để bảo toàn định dạng gốc. Tuy nhiên, định dạng PDF phổ biến hơn XPS, vì vậy khó lòng mà Windows 7 không hỗ trợ PDF.

    WINDOWS 7 VÀ SNOW LEOPARD

    Dù chưa biết HĐH Windows 7 hay Snow Leopard sẽ nắm vị trí quán quân trong cuộc chiến “dai dẳng” giữa Microsoft và Apple, nhưng chúng ta hãy cùng lướt qua những tính năng có nhiều nét tương đồng của hai HĐH này.

    Windows 7 và Snow Leopard có rất nhiều tính năng chung chứ không còn đơn thuần chỉ là giao diện đẹp, thoáng đảng và những biểu tượng có kích thước lớn thú vị.

    Quản lý tập tin: Tính năng Finder của Snow Leopard và Explorer của Windows 7 đều có mục tìm kiếm nhanh nằm ở góc phải phía trên cùng, giúp dễ dàng truy cập những thông tin được lưu trữ trên máy tính.

    Smart Folders so với Libraries: Không có tính năng nào trong Snow Leopard tương đương với tính năng Libraries của Windows 7. Dù Snow Leopard có khả năng tìm kiếm những thứ đã được lưu trữ như Windows 7 nhưng không có khả năng quản lý vị trí của những tập tin này vì thế không thể có điểm nhìn chung cho những tập tin được lưu ở những thư mục khác nhau.

    Truy cập nhanh thông qua Dock hoặc Taskbar: Dock của HĐH Mac OS X có đặc điểm tương tự Jumplist của Windows 7. Một số ứng dụng trên OS X, dùng trình đơn dạng pop-up của Dock để hiển thị thông tin cụ thể liên quan và một số tính năng truy cập dễ dàng những lệnh mà bạn hay dùng đến.

    Dock và Stack: Snow Leopard không có tính năng nào tương đương JumpList nhưng người dùng Mac có thể dùng tính năng chồng (stack) trong Dock để mang lại khả năng truy cập nhanh đến thư mục và tập tin bằng cách chỉ cần kéo bất kỳ thư mục nào vào Dock để tạo thành chồng.

    Hỗ trợ xem trước: Apple đã cải tiến nhiều về công cụ xem trước, để khi trong Finder, với thư mục hiển thị ở dạng biểu tượng với kích thước 64x64 pixel trở lên khi bạn rê chuột qua đó thì sẽ hiển thị nút điều khiển preview/playback (xem trước/phát lại). Công cụ xem trước ở cửa sổ Explorer của Windows 7 chỉ đạt mức cơ bản.

    Exposé so với Aero peek: Hiệu ứng Exposé đã có mặt trên HĐH Mac OS X từ năm 2003, giúp người dùng xem tất cả cửa sổ đang mở hay tất cả cửa số đang mở của một ứng dụng nào đó ở dạng ảnh thu nhỏ (thumbnail) chỉ bằng một lần gõ phím hay nhấn chuột.

    Đối với Windows 7, thumbnail giúp mở các cửa sổ trên các ứng dụng tương ứng khi bạn nhấn chuột vào biểu tượng trên taskbar của ứng dụng này. Khi bạn rê chuột qua thumbnail của một cửa sổ, hiệu ứng Aero Peek của Windows 7 sẽ giấu tất cả cửa sổ khác. Tuy nhiên, trong Windows 7 không thể xem kiểu thumbnail với tất cả cửa sổ xếp bên nhau như trong Expose.

    Phương Mai
    PCWorld Mỹ 11/2009

    ID: A0911_78