• Thứ Tư, 16/12/2009 20:56 (GMT+7)

    Nhìn lại video số

    Video số (digital video) không còn xa lạ gì với ngành công nghiệp video và có thể nói hầu hết video ngày nay đều là video số. Tuy vậy, tốc độ phát triển cực nhanh của video số, nhất là trong giai đoạn đầu, đã thay đổi cả nền công nghiệp phim ảnh. Trước đây, để xem phim tại nhà, bạn cần có đầu đọc video băng từ VHS, còn quay phim phải dùng băng VHS, S-VHS, hoặc Betacam SP cao cấp hơn cho phim ảnh, truyền hình… Còn ngày nay, bạn có vô số chọn lựa các chuẩn định dạng video số khi muốn quay phim, sao lưu, tải lên web… Cách đây vài năm, định dạng MiniDV cho máy quay khá phổ biến vì giá rẻ, dễ dùng với chất lượng hình ảnh vừa phải. Nhưng nay, MiniDV có vẻ “mất giá” khi chuẩn video HD ngày càng phổ biến và nhiều máy quay hiện nay hỗ trợ ghi trực tiếp ra đĩa DVD, Blu-ray, ổ cứng, thẻ nhớ…

    Tuy nhiên, để đi đến được một thế giới hình ảnh mở rộng, phong phú với nhiều định dạng video số như ngày nay, có thể ít ai nghĩ đến những yếu tố ban đầu, có thể xem là bệ phóng cho video số. Bài viết “tản mạn” một vài dấu ấn đậm nét trong quá khứ, mà tựu trung trong khoảng những năm 1980 và 1990. Có 2 yếu tố được xem là có tác động tương đối lớn đến video số ngày nay: Apple và công nghệ nén dữ liệu.

    Video số thuở ban đầu

    Chiếc máy tính đầu tiên của Apple xuất hiện năm 1984, khởi đầu cho kỷ nguyên đa phương tiện khi lần đầu tiên đưa ra giao diện đồ họa cho người dùng GUI (graphical user interface). Bằng cách này, người dùng có thêm một cách "nói chuyện" với máy tính dễ dàng hơn rất nhiều so với màn hình văn bản đen trắng đơn điệu lúc đó. Nhờ có GUI mà các nhà phát triển phần mềm đưa ra được nhiều ý tưởng, sản phẩm đáng giá, mà đối với ngành phim ảnh thì thứ đáng giá nhất chính là giao diện tuyến tính theo thời gian (timeline) cho video để biên tập phim. Có thể nói chính hệ điều hành Windows của Microsoft thừa hưởng được giao diện GUI từ những nhà sáng lập ban đầu là Apple, Lotus, Adobe và Digital Research.

    Và một lần nữa, Apple lại định hướng đúng khi xem máy tính lúc đó là một trong những công cụ phục vụ cho ý tưởng sáng tạo, kết quả là chiếc Macintosh ra đời, có sẵn phần mềm vẽ và bảng tính. Apple không nghĩ máy tính sẽ dành cho đại chúng mà chỉ dành cho những nhà sáng tạo nội dung. Lúc đó, họ đã đúng. (http://www.apple-history.com/?).

    Trước đây, biên tập phim là công việc cực nhọc, tốn nhiều thời gian và công sức. Bạn phải gắn ghép từng mảnh phim lại chỉ với 2 công cụ: kéo và hồ dán. Khi hoàn chỉnh đoạn video lắp ghép, để xuất bản, bạn phải dùng 2 đầu VCR mới có thể chép băng đã biên tập trên VCR này sang băng video trắng trên VCR kia. Công việc biên tập này tuyến tính theo thời gian, vì bạn phải cắt dán, sắp xếp từng đoạn phim theo thứ tự từ trước đến sau, nếu làm sai không thể thực hiện lại. Một khi đã chép ra băng từ thì bạn không thể quay lại cảnh trước để chỉnh sửa lại, trừ khi phải làm lại từ đầu. Một mặt tích cực của kỹ thuật này là: nhà biên tập có tính quyết định hơn.

    Do vậy, khi công ty đa phương tiện Avid lần đầu tiên đưa ra hệ thống biên tập video phi tuyến tính vào đầu những năm 1990 thì họ đã tạo nên một bước nhảy vọt trong ngành công nghiệp phim ảnh. Nhà biên tập lúc này chủ động được về thời gian và chuỗi các đoạn phim, mà nổi danh nhất là nhà làm phim Melies (Pháp) đã đưa nhiều hiệu ứng đặc biệt vào phim ảnh.

    Và khả năng biên tập phim phi tuyến tính hiện nay không còn xa lạ với ngành công nghiệp phim ảnh nữa, thậm chí cả biên tập trên chiếc máy tính để bàn hoặc xách tay thông thường. Trên máy tính, bạn có thể nhảy tới, nhảy lui nhiều lần để chỉnh sửa cho đến khi ưng ý mà không sợ hư hại gì cũng như không tốn nhiều công sức thay cho việc bạn phải dùng kéo, keo dán như trước.

    Đến năm 1994, có thêm một cột mốc đáng nhớ khác cho ngành công nghiệp phim ảnh, đó là Apple được cấp bằng sáng chế cáp FireWire mà còn gọi là IEEE 1394 (viết tắt từ "Institute of Electrical Engineers’ 13th patent in 1994"). Vấn đề lớn lúc đó là video có dung lượng rất lớn và cáp IEEE 1394 đáp ứng được băng thông truyền tải. Tốc độ truyền đạt 400Kbps của IEEE 1394 tránh được tình trạng rớt khung hình khi bạn chuyển phim từ máy quay sang máy tính mà lúc đó chuẩn USB 1.0 không thể đáp ứng được. Nhu cầu về cáp FireWire càng tăng khi càng ngày xuất hiện càng nhiều máy quay số có thể chuyển tín hiệu video trực tiếp sang máy tính. Đây cũng là dạng chuyển đổi tín hiệu video analog (tương tự) sang video số. (http://www.ieee.org/portal/site)

    Khi ngày càng nhiều nhà sản xuất đưa ra máy quay ghi trực tiếp vào ổ cứng, đĩa quang, thẻ nhớ... dạng số thì FireWire càng tỏ ra khả thi cho mảng người dùng gia đình. Vấn đề lớn tiếp theo là bạn sẽ làm gì sau khi biên tập xong video. Trước đây, phương tiện lưu trữ là điều "đáng ngại" nhất khi đĩa mềm hay modem thời đầu của Internet không thể đáp ứng được nhu cầu tải phim.

    Công nghệ nén và dựng hình

    Ngày nay, tiện lợi là phim ảnh được số hóa và được chuyển thành tập tin nên bạn dễ quản lý. Tuy nhiên, để đạt được điều tưởng chừng đơn giản này, Apple một lần nữa đã thực hiện bước đột phá khi đưa ra công nghệ nén phim QuickTime hồi đầu những năm 1990, và có thể xem đây là bước đi hướng đến người dùng phổ thông nhiều hơn là hướng đến dòng chuyên nghiệp của hãng. Từ đó, có nhiều công ty, nhóm nghiên cứu đã đưa ra nhiều thuật toán, kỹ thuật nén video khác mà nổi bật nhất là MPEG. MPEG (Moving Picture Experts Group) là một nhóm chuyên gia đã cất công nghiên cứu để chuẩn hóa các vấn đề xoay quanh công nghệ nén, với mong muốn vừa giải quyết được vấn đề dung lượng phim, vừa tăng tính tương thích, dễ dàng sử dụng cho người dùng phổ thông khi chạy nhiều phần mềm khác nhau. Ban đầu, họ đưa ra chuẩn MPEG-1, rồi MPEG-2 là chuẩn nén cho DVD, sau này là MPEG-4 cho video nền web và game. (www.mpeg.org).

    Về sau, ngày càng có nhiều bộ mã hóa (codec), giải mã xuất hiện cho từng mục đích cụ thể hơn. Như như codec H.263 phù hợp với các giải pháp hội nghị truyền hình vì nó xử lí tín hiệu âm thanh tốt hơn hình ảnh; codec Cinepak lại thích hợp với video xuất bản trên CD-ROM và web vì hiển thị rất tốt hình ảnh kích thước nhỏ; còn codec RealG2 chỉ tốt cho web vì xử lý tín hiệu dựa vào sức mạnh của bộ xử lý để quyết định tỉ lệ khung hình/giây; bộ codec Intel Indeo 4, 5 lại phù hợp khi bạn cần video chất lượng cao nhưng cần sức mạnh xử lý của máy tính, bộ codec này tốt hơn Cinepak nhưng không bằng codec Sorenson nếu xét về chất lượng hình ảnh...

    Năm 1986, Apple mua lại bộ phận đồ họa máy tính của Lucasfilms với giá 10 triệu USD và đổi tên bộ phận này thành Pixar. Những thước phim đầu tiên của Pixar được tạo hình hoàn toàn trên máy tính, kỹ thuật này gọi là CGI (computer-generated images), và hiện nay hầu như mọi phim đều sử dụng kỹ thuật này. Đến năm 2004, có một phương pháp làm phim mới, đó là các hành động thật được bắt hình vào máy tính và ghép, tương tác với các vật thể/người dựng hình, hoạt họa.

    Tương lai là Web và HD

    Giữa những năm 1990, Internet cất cánh và theo đó, năm 1998 các chuẩn nén cho video cũng phổ biến hơn. Một đĩa DVD 2 lớp có thể chứa được toàn bộ phim được nén chuẩn MPEG-2. Bước sang thiên niên kỷ mới, video độ nét cao (HD) đánh động các nhà làm phim, đài truyền hình và cũng vì thế thị trường HDTV cũng bắt đầu nở rộ. Nhiều chuẩn nén video cũng ồ ạt xuất hiện và làm phim chi phí thấp dễ dàng hơn rất nhiều. Tuy nhiên, nhiều nhà sản xuất cũng đang cân nhắc giữa các công nghệ nén hình ảnh và chất lượng hình ảnh vì lưu trữ hiện nay không còn là vấn đề lớn nữa. Các dịch vụ cho thuê băng đĩa cũng sẽ dần dần được thay thế bằng những dịch vụ thuê, xem phim qua mạng. Đầu đọc băng từ VHS trong gia đình được thay thế bằng những hộp set-top box, media player có khả năng kết mạng… Lúc này, bạn sẽ thấy những thước phim khoa học giả tưởng cách nay 1 thập kỷ sẽ không còn là “giả tưởng” nữa.

    Tham khảo:
    • Practical DV Filmarking
    • www.ieee.org
    • www.apple-history.com

    Lê Duy

    ID: A0911_85