• Thứ Ba, 18/01/2011 23:00 (GMT+7)

    Hitachi giới thiệu công nghệ lưu trữ 3D

    Thu Vân
    Ảo hóa lưu trữ sẽ là xu hướng trong năm 2011, đó cũng là lý do Hitachi cho ra đời hàng loạt các công nghệ mới phục vụ thị trường này.

    Ông Hu Yoshida, Giám đốc Công nghệ Hitachi Data Systems.
    Theo dự đoán của ông Hu Yoshida, Giám đốc Công nghệ của Hitachi Data Systems, công nghệ ảo hóa, điện toán đám mây là những xu hướng nổi bật về lưu trữ trong năm 2011. Đón đầu xu hướng này, Hitachi đã thay đổi cách sắp xếp của mình đối với hệ thống lưu trữ theo dạng mô-đun AMS (Adaptable Modular Storage) đồng thời cho ra đời nền tảng lưu trữ ảo VSP (Virtual Storage Platform) để tăng mật độ ổ lưu trữ. Đây được coi là nền tảng mở rộng 3 chiều (3D) đầu tiên trong lĩnh vực trung tâm dữ liệu, giúp doanh nghiệp có khả năng mở rộng toàn diện về độ linh hoạt, tiết kiệm chi phí triển khai và vận hành các trung tâm dữ liệu.

    Cũng theo ghi nhận của Hitachi, e ngại về vấn đề an ninh bảo mật chính là lý do mà mô hình “đám mây” tuy xuất hiện từ 2004 nhưng chưa được nhiều người đón nhận như mong đợi. Vì vậy, Hitachi đã cho ra đời công nghệ Multiuser’s Security để giúp đảm bảo an ninh trên môi trường đám mây.

    Thời gian qua, Hitachi luôn là tập đoàn dẫn đầu trong lĩnh vực lưu trữ với nhiều công nghệ ra đời phục vụ lĩnh vực này. Không những thế, ông Hu Yoshida, Giám đốc công nghệ của hãng còn được biết đến nhờ những dự đoán với độ chính xác cao của ông về xu hướng CNTT hàng năm.

    Bằng việc đánh giá Việt Nam là một thị trường tiềm năng trong lĩnh vực lưu trữ, Hitachi Data Systems đang từng bước mở rộng hoạt động của mình tại đây. Dự kiến, tháng 6 tới, Hitachi Data Systems sẽ khai trương văn phòng tại Việt Nam.

     

    Những dự đoán về lưu trữ của ông Hu Yoshida cho năm 2011

    1. Ảo hóa lưu trữ và Dữ liệu động (Dynamic Provisioning) sẽ được chấp nhận nhanh chóng khi nó trở thành nền tảng cho điện toán đám mây và các trung tâm dữ liệu linh hoạt, có tính sẵn sàng cao.

    2. Xu thế tích hợp chặt chẽ ảo hóa lưu trữ và máy chủ để tăng cường việc triển khai ảo hóa trung tâm dữ liệu.

    3. Phân chia lớp ảo (virtual tiering) sẽ được áp dụng cho việc quản lý vòng đời dữ liệu.

    4. Đã đến lúc ứng dụng ổ cứng thể rắn (SSD) để đạt hiệu suất cao hơn và giảm chi phí trong cấu hình lớp ảo. Do có tới hơn 80% các ổ lưu trữ không hoạt động thường xuyên nên chỉ cần một lượng nhỏ các ổ SSD trong Lớp 1 (Tier 1) để phục vụ cho vùng dữ liệu thường xuyên hoạt động, trong khi phần còn lại có thể nằm trên các ổ SAS hay SATA giá thấp hơn. Một khối hệ thống đa lớp chứa một lượng nhỏ các ổ SSD gắn cùng với một lượng lớn các ổ SAS và SATA giá thấp có thể tiết kiệm được khá nhiều chi phí và có hiệu suất truy xuất vào ra (IOPs) lớn hơn (từ 4-5 lần) so với lựa chọn chỉ sử dụng ổ SAS trên cùng một mức dung lượng.

    5. Ổ đĩa sử dụng giao thức SAS (Serial Attached SCSI) sẽ được đưa vào sử dụng để tăng tính sẵn sàng và hiệu suất trong các hệ thống lưu trữ doanh nghiệp. Không giống các vòng Kênh sợi quang (Fibre Channel - FC) được sử dụng để hỗ trợ các ổ FC trong các hệ thống lưu trữ cũ hơn, SAS là một giao thức kết nối điểm-điểm. Các vòng FC yêu cầu mỗi ổ trên vòng phải phân rã mỗi khi cần cập vào vòng đó, và điều này thường gây xung đột. Nếu một ổ có tốc độ nhanh hơn – như ổ SSD chẳng hạn – được nối vào vòng đó, nó có thể làm “ngập lụt” vòng đó và các ổ khác sẽ không thể được truy cập được. Trong khi đó, do ổ đĩa SAS do có tốc độ lớn hơn - 6Gbps (ổ FC chỉ là 4Gbps) nên chúng sẽ có lợi thế về hiệu suất với tốc độ và khả năng truy xuất điểm-điểm nhanh hơn.

    6. Ổ cỡ nhỏ (SFF) sẽ trở nên phổ biến nhờ tiết kiệm điện năng và khả năng làm mát tốt hơn. SFF là các loại ổ cứng 2,5- inch chỉ tiêu tốn khoảng 6-8w, ít hơn nhiều so với mức tiêu thụ 12-15w của loại ổ cứng 3,5-inch.

    7. Đám mây sẽ được chấp nhận như một mô hình hạ tầng thích hợp. Mặc dù vẫn còn vài thổi phồng liên quan đến khái niệm “đám mây”, nhưng nhìn chung đã có những luận điểm chắc chắn để khẳng định cho xu hướng này. Những thành công bước đầu của đám mây sẽ giúp cho chúng được chấp nhận rộng rãi hơn. Ngoài ra, cũng có thêm những công cụ quản lý và các lớp kết hợp khác để mang lại sự thông suốt cho các điểm đầu cuối nhằm đảm bảo cho các mục tiêu cấp dịch vụ và hoàn vốn trong doanh nghiệp.

    8. Hội tụ trong trung tâm dữ liệu sẽ bắt đầu xuất hiện. Việc hội tụ máy chủ, lưu trữ và hệ thống mạng sẽ giúp đơn giản hóa và tăng tốc quá trình triển khai ứng dụng.

    9. Tăng tính thông suốt ứng dụng trong ảo hóa lưu trữ hoặc hạ tầng mạng đám mây cho các ứng dụng. Nếu không có sự thông suốt này, người dùng ứng dụng sẽ không biết các mục tiêu cấp độ dịch vụ (SLO) có đạt được hay không, hay không biết làm thế nào để xác định phần phí dịch vụ cũng như kế hoạch sử dụng và tình trạng sử dụng của hạ tầng lưu trữ đang vận hành. Phần mềm quản lý cần cung cấp một đơn vị vận hành hoặc bảng điều khiển ứng dụng để xác định SLO và luôn theo sát các thay đổi về cấu hình.

    10. Sẽ có các dịch vụ quản lý từ xa để giảm tải việc theo dõi, cảnh báo, báo cáo ở cấp độ thấp hơn và các tác vụ quản lý vốn hạn chế khả năng hoạt động CNTT khi chuyển sang sử dụng công nghệ mới.