• Thứ Tư, 08/06/2011 14:32 (GMT+7)

    Mac OS X lược sử 10 năm

    Anh Khoa
    Sau 10 năm "chia tay" Mac OS cũ, dường như Apple đã thành công với hàng loạt phiên bản Mac OS X được liên tục ra mắt.

    Có thể khẳng định, cái tên Mac OS xem ra vẫn khá lạ lẫm với đại bộ phận người dùng máy tính, song ít ai ngờ rằng đó chính là "quả đấm thép" của Apple - hãng công nghệ đang làm mưa làm gió trên thị trường điện thoại thông minh (smartphone) và máy tính bảng (tablet). Xuất hiện trên các dòng máy tính Macintosh độc quyền của Apple từ những năm đầu của thập niên 1980, Mac OS đã được biết đến như một hệ điều hành (HĐH) khó sử dụng nhưng lại vô cùng hấp dẫn ở giao diện người dùng trực quan và đặc biệt là sự hỗ trợ mạnh mẽ cho các giải pháp thiết kế và xử lý đồ họa, phim ảnh.

    Ở những phiên bản Mac OS đầu, Apple đã tinh giản mức độ quan trọng của HĐH để đảm bảo rằng máy tính hoạt động với giao diện thân thiện hơn và có sự khác biệt với những HĐH khác như MS-DOS vốn đầy bí ẩn và thách thức về mặt kỹ thuật. Phần lớn phần mềm hệ thống HĐH buổi đầu này của Apple được lưu trong bộ nhớ ROM với các bản cập nhật thường được cung cấp miễn phí thông qua đĩa mềm. Tuy nhiên, khi nhu cầu lưu trữ trên đĩa cứng và hiệu năng tăng lên, Apple mới bắt đầu chuyển hướng tạo ra những phần mềm riêng biệt để có thể lưu trữ và khởi chạy trực tiếp trên đĩa cứng, bắt đầu từ System 7.1. 7.5 và sau đó là phiên bản Mac OS 7.6 vào năm 1997. Các phiên bản Mac OS đầu tiên chỉ tương thích với các máy Mac chạy trên nền BXL Motorola 68000. Và khi Apple giới thiệu các máy Mac với BXL PowerPC thì hiển nhiên Mac OS cũng hỗ trợ tốt kiến trúc này. 

    Từ năm 2000, Apple quyết định "thay máu" bằng cách tung ra phiên bản Mac OS X với mục tiêu cải thiện hiệu năng và quan trọng nhất là dễ dàng khai thác sức mạnh của nền tảng BXL Intel. Tuy nhiên, các phiên bản Mac OS X sau này (trừ phiên bản Snow Leopard hay còn gọi là Mac OS X 10.6) vẫn tương thích hoàn toàn với kiến trúc/môi trường Mac OS "cổ điển" nên vẫn có thể họat động tốt trên nền tảng PowerPC.

    Từ "Gấu nâu"

    Phiên bản Mac OS X thử nghiệm Beta được giới thiệu đến công chúng từ tháng 9/2000 với tên thương mại Kodiak (Gấu nâu) và điểm khác biệt rõ nét nhất ở phiên bản này với Mac OS 9 là giao diện Aqua, thanh công cụ Dock và thanh trình đơn - 3 thành phần này hiện là đặc trưng của máy tính và HĐH Mac.

    Gần một năm sau (tháng 3/2001), phiên bản Mac OS X chính thức đầu tiên được phát hành với tên mã Cheetah (Mac OS X phiên bản 10.0) với nền tảng mã lệnh hoàn toàn khác biệt so với Mac OS 9 và tất cả HĐH Mac trước đó. Ngoài ra, Mac OS X Cheetah cũng đưa ra một giải pháp quản lý bộ nhớ hệ thống hiệu quả hơn. Từ năm 2002, Mac OS X được Apple cài cho tất cả máy tính Macintosh mới.

    Sự cải tiến của Mac OS X bắt đầu được ghi nhận kể từ phiên bản "Báo đốm" (Jaguar). Kế thừa và khắc phục từ Mac OS X phiên bản thứ 2 (Puma), Jaguar mang đến sự ổn định và tốc độ nhanh hơn, trong khi tính năng ghi đĩa CD, phát đĩa DVD hay Image Capture tiếp tục được Apple hoàn thiện - tuy nhiên nhiều phản hồi cho rằng Jaguar vẫn chưa thực sự trưởng thành và còn khó sử dụng. Năm 2003, với phiên bản Mac OS X thứ 4 (Panther hay phiên bản 10.3), Apple một lần nữa thay đổi "nội tạng" của Mac OS X với việc yêu cầu một kiến trúc ROM mới (một dạng BIOS trên máy Mac) và điều này đã khiến tất cả máy Mac cũ trở thành "phế liệu". Dẫu vậy, Panther được đón nhận khá nồng nhiệt, cạnh đó tính năng tìm kiếm Finder được thiết kế lại một cách hoàn hảo, đồng thời Apple cũng mang đến những tính năng hữu ích như chuyển đổi nhanh người dùng, trình quản lý cửa sổ Exposé, quản lý tập tin FileVault, trình duyệt Safari, và công cụ iChat AV (bổ sung cho tiện ích iChat có từ phiên bản Jaguar), đặc biệt là cải thiện khả năng hiển thị tập tin PDF - các tính năng và công cụ này hiện là những nét đặc trưng của HĐH Mac). 

    Sau 5 năm ẩn mình, chú "Gấu nâu" ngày nào đã gần như lột xác hoàn toàn để có thể chinh phục người dùng máy tính. Tháng 4/2005, "hậu duệ" đời thứ 6 của Mac OS X xuất hiện với tên gọi Tiger (phiên bản v10.4) và đây cũng là phiên bản có tuổi đời dài nhất của OS X. Theo Apple, Tiger có trên 150 tính năng mới nhưng lại yêu cầu máy tính phải có cổng FireWire tích hợp. Cũng ở phiên bản "ông 30", Apple giới thiệu hàng loạt tính năng mới như công cụ tìm kiếm tốc độ cao Spotlight, Dashboard, Smart Folders, trình quản lý Mail với tính năng Smart Mailboxes, QuickTime 7, Safari 2, Automator, VoiceOver, Core Image và Core Video. Đầu tháng 1/2006, Apple ra mắt dòng máy Mac nền Intel đầu tiên với HĐH Tiger bản cập nhật 10.4.4. Phiên bản này họat động tương tự nhau trên máy Mac nền PowerPC và các hệ thống Mac mới nền Intel - tuy nhiên phiên bản dành cho nền Intel thiếu khả năng hỗ trợ môi trường Classic. Ngoài ra, chỉ các máy Mac nền PowerPC mới có thể được khởi động từ đĩa DVD chứa HĐH Tiger bán lẻ, tuy nhiên một đĩa DVD “đa năng” Tiger Server 10.4.7 có thể khởi động trên đồng thời máy Mác nền PowerPC và Intel. Cũng từ phiên bản này, Mac OS X hỗ trợ các BXL đồ họa riêng biệt.

    …đến "Báo tuyết"

    Phiên bản thứ 7 của Mac OS X được Apple phát hành vào tháng 10/2007 với tên gọi Leopard (con báo), có đồng thời bản dành cho máy tính cá nhân và máy chủ. Theo Apple, Leopard là bản đại tu hoành tráng nhất của Mac OS X (v10.5) với hơn 300 thay đổi và cải tiến so với tiền bối Tiger. Về cơ bản, Leopard cung cấp đầy đủ các thành phần dạng lõi của HĐH, đi kèm nhiều ứng dụng và công cụ phát triển. Leopard hỗ trợ đồng thời máy tính nền PowerPC và Intel x86, hỗ trợ BXL PowerPC G3 và G4. Đáng chú ý, đây là phiên bản Mac OS X cuối cùng hỗ trợ kiến trúc PowerPC.

    Hai năm sau (tháng 6/2009), "Báo tuyết" Snow Leopard được chính thức ra mắt giới công nghệ và chỉ một năm sau phiên bản thứ 7 của HĐH "quả táo" được phát hành trên toàn cầu. Thay vì tạo mới hay nâng cấp những tính năng "hữu hình", Snow Leopard chú trọng đến những cải tiến bên trong nhằm cải thiện hiệu năng và độ ổn định cho HĐH. Với hầu hết người dùng, những thay đổi đáng chú ý là khả năng làm sạch đĩa cứng sau quá trình cài đặt, công cụ sao lưu Time Machine vận hành nhanh hơn, sự linh hoạt ở ứng dụng Preview cũng như trình duyệt Safari tốc độ hơn. 

    Mac OS X v10.6 (tức Snow Leopard) cung cấp giải pháp Microsoft Exchange Server hỗ trợ Mail, iCal và Address Book, đồng thời công nghệ 64-bit tích hợp trên Snow Leopard cho phép hỗ trợ khai thác RAM nhiều hơn, kèm theo đó là tiện ích QuickTime X mới với giao diện được nâng cấp hoàn toàn. Có thể khẳng định, phiên bản Mac OS X "thân Intel" này một lần nữa tạo ra một bước ngoặt lớn cho Apple trên chiến trường máy tính cá nhân.

    Chờ đón "Sư tử"

    Sau 2 phiên bản Leopard, Apple nhận được không ít lời phàn nàn về bảo mật và thực tế là Apple khá xa cách với cộng đồng bảo mật. Nhiều ý kiến cho rằng Apple lơ là, song số khác lại nhận thấy Apple có phần "khinh địch". Tháng 10/2010 vừa qua, một phiên bản "xem trước" của phiên bản Mac OS X Lion (phiên bản 10.7) đã được Apple giới thiệu đến các nhà phát triển, và dự kiến chính thức trình làng Lion vào mùa hè năm nay. Với "chú sư tử" mới, Apple đã mạnh dạn trang bị nhiều tính năng trên mảng di động (mà điển hình là HĐH iPhone OS) vào OS X; nhiều thay đổi đã được thực hiện cho giao diện đồ họa người dùng (GUI), bao gồm thanh Launchpad (tương tự màn hình chủ trên thiết bị nền iOS), thanh công cụ tự động giấu đi khi không cần sử dụng. 

    Quãng đường 10 năm có thể chỉ là một chuyến dã ngoại đối với nhiều hãng sản xuất HĐH khác, nhưng với Apple và Mac OS X thì đây là một cuộc đua đường trường với vô vàn áp lực về công nghệ, trí tuệ và tiền của.
    Với Mac OS X, tương lai vẫn đang rộng mở.

    Từ khóa: Anh Khoa
    ID: A1105_71