• Thứ Sáu, 22/04/2005 14:52 (GMT+7)

    Tại sao Windows không khởi động được với bo mạch chủ mới?

    Tôi vừa lắp đặt bo mạch chủ mới cho máy tính. Hiện nay Windows hoàn toàn không khởi động được dù không có gì thay đổi trên ổ đĩa cứng. Điều gì đã xảy ra?

    Trước hết, bạn phải bảo đảm ổ đĩa cứng đã được gắn với bo mạch chủ (BMC) và BMC đã nhận dạng được thiết bị này. Bạn có thể thực hiện công việc này trong chương trình PC Setup, nhưng các tùy chọn trong chương trình này thay đổi tùy theo BIOS.

    Bạn kích hoạt chương trình PC Setup bằng cách nhấn một phím đặc biệt trước khi Windows được nạp vào hệ thống. Một thông báo sẽ xuất hiện và cho bạn biết phải nhấn phím nào. Tìm kiếm trong các trình đơn của PC Setup chỗ liệt kê các ổ đĩa cứng, sau đó phải bảo đảm tên ổ đĩa của bạn nằm trong trình tự khởi động hệ thống. Cũng có thể, bạn phải yêu cầu BIOS nhận dạng lại các ổ đĩa cứng trên máy dù trên thực tế BIOS phải tự động làm công việc này.

    Hình 1: Thiết lập cách hiển thị mới cho sổ danh bạ liên lạc trong Outlook.

     

    Nếu như PC Setup vẫn không thể nhận diện ổ đĩa này, bạn hãy mở máy tính ra lần nữa để kiểm tra lại các đầu nối trên BMC với ổ đĩa cứng và khởi động lại máy.

    Cũng có thể do một nguyên nhân khác, đó là bộ nguồn cung cấp mà bạn đang dùng có thể không đủ công suất đối với BMC mới. Hãy đọc lại tài liệu đi kèm BMC để tìm ra trị số công suất mà hãng sản xuất yêu cầu. Để biết rõ hơn về cách tính tổng công suất cần thiết cho hệ thống, bạn có thể tham khảo bài “Giải bài toán nguồn điện trong số báo tháng sau.

    Nếu các thiết bị phần cứng đều thỏa mãn các yêu cầu kiểm tra, bạn hãy khởi động máy bằng đĩa mềm để kiểm tra xem có thể truy cập các tập tin cần thiết trên ổ đĩa cứng hay không. Nếu đĩa cứng được định dạng FAT32 thì bạn có thể truy xuất chúng từ đĩa mềm. Với định dạng NTFS, bạn hãy sử dụng tiện ích NTFS Boot Disk miễn phí để tạo một đĩa mềm khởi động có khả năng đọc được ổ đĩa cứng NTFS (tải về tại www.pcworld.com.vn, ID:46254).

    Nếu có thể truy cập được dữ liệu trên ổ đĩa cứng nhưng vẫn không thể khởi động máy được, nhiều khả năng bạn phải "nghiến răng" cài đặt lại Windows (tham khảo bài “Trẻ hóa Windows”, TGVT A 3/2005, t.103).

    Sắp xếp lại sổ địa chỉ trong outlook

    Làm cách nào để có thể sắp xếp lại danh bạ liên lạc theo thứ tự địa chỉ email để dễ dàng tìm ra tên phù hợp?

    Việc này hoàn toàn có thể thực hiện được. Cơ bản là bạn cần phải tạo ra một cách xem đặc biệt. Sau đây là các bước thực hiện trong Outlook với các phiên bản từ 2000 trở lên.

    Truớc hết, mở cửa sổ Contacts của Outlook và chọn View.Current View.Define Views (hayView.Arrange By.Current View.Define Views với Outlook 2003). Nhấn New, đặt tên cho cách xem mới, ví dụ E-mail sort chẳng hạn và chọn Table là kiểu hiển thị của cách xem này. Sau cùng nhấn OK.

    Trong cửa sổ Customize View, nhấn Field để mở hộp thoại Show Fields và nhấn đúp vào mục E-mail trong danh sách Available Fields. Nếu không có chọn lựa này, bạn nhấn chuột vào trình đơn thả xuống “Select available fields from” và chọn mục E-mail fields (hình 1). Nhấn nút Move Up cho đến khi nào mục E-mail này được chuyển lên gần đầu danh sách. Thứ tự của mục này trong cửa sổ sẽ kiểm soát thứ tự xuất hiện của các khoản mục trong danh sách. Nhấn OK để quay về màn hình trước đó.

    Tiếp đến, nhấn Sort và chọn mục E-mail ở trình đơn thả xuống Sort items by (một lần nữa, chọn E-mail fields từ trình đơn Select available fields nếu không thấy mục E-mail xuất hiện). Nhấn OK hai lần, rồi sau đó là Close.

    Để xem sổ danh bạ liên lạc được sắp xếp theo thứ tự địa chỉ e-mail, bạn chọn View.Current View.E-mail sort (hoặc View.Arrange By.Current View.E-mail sort với Outlook 2003). Ở lần đầu, có thể bạn sẽ cần tăng độ rộng của cột địa chỉ e-mail bằng cách kéo đường biên phân cách về bên phải.

    Bảo vệ thư mục dùng chung

    Việc bảo vệ bằng mật khẩu (password) đối với một thư mục chia sẻ trên mạng có thể được thực hiện khá đơn giản trong Windows 98. Vậy trong Windows XP, tôi phải bảo vệ các thư mục chia sẻ của mình như thế nào?

    Công việc này tuy rất dễ dàng thực hiện trong những phiên bản Windows trước đây, nhưng lại gặp nhiều khó khăn và thiếu tài liệu hướng dẫn trong Windows XP Professional và theo lý thuyết thì không thể thực hiện được với Windows XP Home. Tuy nhiên, vẫn có cách vượt qua những trở ngại đó. Khi có kẻ lạ xâm nhập vào máy tính của bạn qua mạng cục bộ, Windows XP sẽ cho phép người đó truy cập vào với tài khoản Guest, ngay cả khi tài khoản đó đã tắt. Do vậy, nếu dùng cách bảo vệ bằng mật khẩu đối với tài khoản Guest, bạn có thể bảo vệ rất hiệu quả việc xâm nhập trái phép máy tính của mình.

     

    Hình 2: Chụp lại màn hình máy tính để lưu lại cấu hình phần cứng nếu máy in không có cổng kết nối song song.

    Trên hệ thống Windows XP (tạm gọi là “máy chủ”), bạn chọn Start.Run, và gõ lệnh net user guest password, với password là một số kí tự không rõ ràng. Sau đó nhấn Enter rồi khởi động lại hệ thống. Để đặt được những mật khẩu khó đoán, bạn có thể tham khảo thêm bài viết “Password của bạn có an toàn” trên TGVT A 10/2003, t.115.

    Từ đây trở đi, bất cứ ai muốn đăng nhập vào máy chủ đều sẽ gặp một hộp thoại yêu cầu nhập mật khẩu. Không có mật khẩu, việc đăng nhập sẽ bị từ chối. Tuy nhiên có hai điều kiện cần thiết. Thứ nhất, người dùng phải kết nối vào máy tính của bạn thông qua Windows (chứ không phải trình ứng dụng), một hộp thoại yêu cầu mật khẩu sẽ tự động mở ra. Thứ hai, tài khoản Guest của máy chủ phải được tắt – đây là thiết lập mặc định. Nếu tài khoản này đang mở, hãy tắt nó đi bằng cách chọn Start.Control Panel.User Accounts.Guest.Turn off the guest account.

    Đọc các cài đặt phần cứng

    Tôi đang cố gắng thực hiện tối ưu hóa PC của mình và thường xuyên phải tham khảo các thông số cài đặt BIOS. Có cách nào để in các cài đặt này, đưa những thông tin đó ra tập tin hoặc xem chúng trong Windows?

    Các thông số cài đặt phần cứng được lưu giữ trong CMOS và có thể truy cập thông qua một chương trình đặc biệt trong BIOS có tên là PC Setup. Bạn chỉ có thể chạy chương trình PC Setup vào thời điểm bắt đầu của quá trình khởi động hệ thống bằng cách ấn một phím cụ thể, thường được chỉ rõ trên màn hình khi khởi động máy. Tuy nhiên sẽ rất phiền phức nếu phải khởi động lại máy mỗi khi cần tham khảo các cài đặt này.

    Giải pháp tốt nhất là dùng một chương trình có khả năng hiển thị một cách rõ ràng và chính xác tất cả các cài đặt phần cứng. Tuy nhiên, trên thực tế không có một phần mềm nào đáp ứng được yêu cầu này.

    Giải pháp thứ hai là in các thông số cài đặt. Tuy nhiên, giải pháp này đòi hỏi bạn phải có một máy in kết nối với máy tính thông qua cổng song song. Các máy in cổng USB và in mạng không phù hợp trong trường hợp này. Để in các thông số cài đặt, bạn khởi động máy và vào chương trình PC Setup. Bây giờ di chuyển qua hết các trình đơn và nhấn phím Print Screen ở tất cả các màn hình. Sau trang cuối, bạn nhấn nút thoát (eject) của máy in, nếu không tìm thấy nút này thì hãy nhấn phím Print Screen một lần nữa.

    Không may là có nhiều máy in kiểu mới không trang bị cổng song song. Nếu không thể sử dụng cách trên, bạn nên dùng đến biện pháp chụp hình. Rẻ và nhanh là dùng máy ảnh kỹ thuật số hay máy quay phim càng tốt. Nếu dùng máy ảnh số, bạn nên dùng loại máy có độ phân giải thấp nhất và chụp ở góc nhìn trực tiếp với màn hình (hình 2). Bạn nên chụp hình không dùng đèn flash và ánh sáng chung quanh càng yếu càng tốt và nếu có thể là vào lúc trời tối. Bạn không cần dùng đến chân máy nhưng nếu có thì việc chụp sẽ dễ hơn và chất lượng ảnh cũng sẽ tốt hơn.

    Phục hồi E-Mail đã xóa

    Nếu có vài e-mail bị xóa thì bằng cách nào tôi có thể phục hồi chúng?


    Bạn có thể phục hồi dễ dàng những email vừa xóa từ các thư mục Deleted Items hoặc Trash của một chương trình quản lý email thông dụng. Ngay cả trường hợp các thư mục này đã được dọn dẹp sạch, bạn vẫn có thể phục hồi lại được những gì đã xóa với một phần mềm phù hợp.

    Phần mềm demo miễn phí E-Recovery for Outlook Express (giá bán 49USD, tải về tại http://www.dtidata.com/e-recovery_outlook_express.htm) sẽ cho bạn biết những email nào có thể phục hồi, nhưng bạn phải mua phần mềm chính thức để sử dụng chức năng đó.

    Nếu đang dùng Microsoft Exchange Server, Outlook có một cách để phục hồi những e-mail đã xóa khỏi thư mục Deleted Items. Đó là chức năng ”Recover deleted items” trong trình đơn Tools.

    Ngoài ra, tiện ích Search and Recover 2 giá 40USD của Iolo Technologies có thể phục hồi các email đã xóa trong Outlook Express, Outlook, Eudora và Netscape Messenger.

    Minh Xuân
    PC World Mỹ 4/2005

    ID: A0504_137