• Thứ Tư, 20/06/2012 10:02 (GMT+7)

    Basic Plus - giải pháp phono cho dàn hi-end 'nhỏ và vừa'

    Bài và ảnh Như Dũng
    Phono pream 2 cục Basic Plus cấp nguồn rời là máy tiền khuếch đại chuyên nghiệp cho mâm đĩa than, tiện dụng, hay và có giá tốt, của hãng Clearaudio (Đức).

    Bộ Basic Plus

    Clearaudio là chuyên gia làm mâm đĩa than và phụ kiện nhưng phono pream của Clearaudio cũng xuất sắc, có thể thách thức nhiều pream phono cao hơn tầm giá của nó. Phono pre Basic Plus (giá tham khảo 900USD, ~18,9 triệu đồng/bộ) nhỏ gọn, cầm được trong bàn tay, đẹp với 2 vỏ máy đồng dạng làm từ nhôm máy bay. Sản phẩm này chuyên nghiệp vì được cấp nguồn rời.

    Basic Plus có nền âm tĩnh lặng sâu sắc khiến mọi chi tiết âm nhạc nhỏ bé và tinh tế nhất đều được khơi dậy. Ngoài ra, nó là thế hệ mới (Plus) nên sau này có thể nâng cấp bằng cách gắn thêm cấp nguồn bằng Pin sạc của Clearaudio có tên là Accu power +.

    Basic Plus chơi được cả 2 loại hộp kim MM và MC, có mạch tự động chọn tổng trở đầu vào của hộp kim. Nó chơi được mọi loại kim, kể cả loại có đầu ra thấp nhất. Khi mua Basic Plus về, việc duy nhất mà người dùng phải làm là chọn vị trí kim MM hay MC; nút chọn nằm dưới đáy máy. Basic Plus được thiết kế theo công thức bền - đẹp - dễ dùng và “cắm là chạy”. 

    Phương án thử nghiệm

    Trước khi trải nghiệm Basic Plus, chúng tôi đã có dịp trải nghiệm thiết bị Nanophono – một phono pre chỉ nhỏ bằng hộp băng cassette và rất hay của Clearaudio. Kỳ này, Nanophono sẽ làm thiết bị đối chứng cho Basic Plus. Trải nghiệm có đối chứng với chế độ cho mâm đĩa than chạy trực tiếp vào mạch phono của ampli đèn Rogue Audio Cronus Magnum. Khi dùng pre Basic Plus, ngõ ra của bộ thiết bị này được đấu vào ngõ Aux của Magnum.

    Đặc tính kỹ thuật:

    Kích thước: rộng 10cm, sâu 16,5 cm, cao 6 cm có chân nhựa dẻo chống rung, triệt nhiễu
    Khuếch đại: 62dB (chế độ MC) và 41dB (chế độ MM)
    Tải đầu vào: 800 Ohm/270pF với chế độ MC và 47 kOhm/270pF với chế độ MM
    Độ chính xác RIAA: +/- 0,15dB
    Độ méo THD: 0,003% (IEC A)
    Tín hiệu trên độ ồn S/N: -65 dB (Chế độ MC)
    Tách kênh: Lớn hơn 92dB ở 1Khz
    Điện áp ra tối đa: 10V (1kHz)
    Nguồn cung cấp: +/-25 V DC (Cấp nguồn ngoài)
    Đầu ra: jắc RCA cao cấp MPC chống nhiễm từ
    Khối lượng: 2,1 kg (gồm preamp và power supply).

    Ampli đèn tích hợp Separo SE300I không có mạch phono cũng được huy động để thử bộ Basic Plus. Mâm đĩa than nối với bộ Basic Plus và từ Basic Plus nối vào ngõ Aux của Separo. Nanophono được dùng để đối chứng Basic Plus bằng cả ampli Separo lẫn ampli Magnum. Loa chơi cùng Separo là AR TSW 610 170W 4Ohm còn loa chơi cùng Magnum là JBL Control Monitor 4312A 100W 8Ohm (đều là loa cổ có bass 3 tấc, độ nhạy 93dB). Mâm đĩa than duy nhất dùng trong trải nghiệm này là Pioneer XL-1551, kim MM của Audio Technica.

    Nghe bộ Basic Plus với ampli Separo và cặp loa AR cho thấy giải pháp Basic Plus hay hơn giải pháp nghe với Nanophono. Basic Plus nghe với Separo và AR cũng hay hơn Basic Plus nghe với Magnum và loa JBL. Còn so sánh với việc “nghe chay” qua phono có sẵn trong ampli Magnum, giải pháp Basic Plus hay hơn nhiều. Ở một mức độ nào đó, Nanophono cũng hay hơn mạch phono vốn có của Magnum. Như vậy, từ mạch phono tích hợp sẵn lên Nanophono, rồi đến Basic Plus, các giải pháp tuân thủ luật “tiền nào của nấy”. Đồng thời, các trang thiết bị dùng kiểm thử hoàn toàn đáp ứng sự phân biệt này. Tỷ lệ cách biệt thuận.

    Với Separo, đầu tư phono pre như Nanophono hoặc Basic Plus là bắt buộc nếu muốn nghe đĩa than. Nanophono (giá 370USD, ~7,7 triệu đồng) là phương án tiết kiệm không chịu thiệt còn Basic Plus là phương án tốt đẹp. Với Rogue Audio Cronus Magnum, đầu tư thêm Nanophono hay Basic Plus không thừa nếu người nghe ưu tiên đĩa than. Họ có thể chơi thay đổi kim giữa MM và MC, hay chơi cùng lúc 2 mâm đĩa than. Hơn nữa, mạch phono theo máy thường chỉ hỗ trợ kim MM và muốn chơi cả 2 loại kim, muốn chuyển tải tốt âm nhạc analogue phải dùng phono pre rời. Như với Separo, Basic Plus cũng là phương án tốt với Magnum. Dĩ nhiên, mọi thứ hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm đầu tư và khả năng người dùng .

    Gọn, đẹp, đáng tiền

    Chúng tôi quyết định đi sâu vào phương án nghe Basic Plus với Rogue Audio Cronus Magnum và JBL. Phương án này rất thành công về thẩm âm: Mọi thứ chính xác và trung tính do JBL là loa kiểm thính. LP đầu tiên nghe trong đêm trải nghiệm là Hi-Fi Orgel Bach – Walcha. Đĩa được hãng Archiv Produktion sản xuất năm 1971 tại Đức. Archiv Produktion là nhà xuất bản băng đĩa nhạc sở hữu những bản thu hay nhất với nhạc Bach. Cho nên, không có gì phải băn khoăn về bản thu, nhất là nghệ sĩ chơi lại là Helmut Walcha – tượng đài đàn Orgue. Bản Toccata & Fuge d-moll (D minor) BWV 565 ở mặt 1 thật rực rỡ và lộng lẫy với bè trầm “dằn xuống” dày, đầy, sâu, rộng. Các bè khác đều đâu vào đấy. Đây là một trong các tác phẩm nổi tiếng nhất của Bach, được nhiều dàn nhạc nhẹ đương thời soạn lại và chơi. Nó cũng xuất hiện nhiều dưới dạng nhạc chuông, nhạc chờ của điện thoại di động… Có thể nói, Toccata & Fuge d-moll của Bach ở trình diễn của Walcha là mẫu mực về mọi phương diện - từ nhịp điệu, âm sắc, độ động đến xử lý câu, đoạn, phức điệu cũng như tương quan hoà thanh, có thể nghe đi nghe lại rất nhiều lần.

    Ưu điểm: Hay trên tầm giá. Bền, đẹp, gọn gàng.

    Nhược điểm: "Hai mảnh", hơi bất tiện khi di chuyển.

    Ám ảnh bởi phức điệu và hoà thanh dày đặc của nhạc Bach khiến chúng tôi lục nghe thêm một tác phẩm nổi tiếng khác là Mass in B-minor BWV 232 - một trong những thánh ca hay nhất. Mass in Bminor do Hợp xướng và Dàn nhạc Lausanne trình bày dưới sự chỉ huy của Michel Corboz. Đĩa do RCA sản xuất tại Mỹ năm 1974 theo nhượng quyền thu âm của Erato và rất chất lượng. Chương I Kyrie bắt đầu từ hợp xướng Kyrie eleison Lord, have mercy upon us. Mở màn này cũng “tổng lực” như mở màn Toccata & Fuge d-moll nói trên và vô cùng dày đặc, hoành tráng. Mass quy tụ cả một dàn nhạc lớn, trong đó bộ dây và bộ hơi rất tuyệt. Bất kể một audiophile ghiền bass nào cũng sẽ bị chinh phục bởi các loại bass trong tác phẩm này. Đồng thời, mức độ chi tiết, hoà quyện của các dòng nhạc cụ, giọng ca cũng đạt mức tối đa…

    Trốn chạy khỏi thứ nhạc hoành tráng, âm thanh nổi, chúng tôi tiếp tục với LP Schubert Schwanengesang – Dietrich Fischer – Dieskau (Baritone – nam trung) và Gerald Moore (piano). Đây là đĩa monophonic sản xuất năm 1955 bởi Angel – một nhà xuất bản băng đĩa hàng đầu thế giới. Mono là chuẩn có trước stereo, âm thanh trung thực hơn stereo, có gì thu vậy, thu sao phát vậy, không kích âm, hai loa kêu như nhau. Nghe mono dễ tĩnh tâm khai thác chiều sâu nét nhạc mặc dù khó hình dung sân khấu. Với loại hình đơn ca – độc tấu thì mono lại là lựa chọn khó thay thế. Fischer - Diekau là ca sĩ hát Schubert hay nhất. Giải pháp chúng tôi thử nghiệm có thể thấy rõ điều đó: Tinh tế, tình cảm, nhiệt huyết, điêu luyện, sống trọn với từng chữ, từng nốt... Đồng thời, sẽ là không công bằng nếu không nói đến vai trò “độc tấu piano” trong phần bè của Gerald Moore. Đó đúng là một phần không thể tách rời hay xem nhẹ.

    Cuối cùng, chúng tôi tìm được một đĩa nhạc nhẹ khá lạ lẫm về phong cách. Nó vừa giống jazz, vừa giống pop mà cũng có một số nét “thùng thục” như rock nữa. Đó là LP Heart Dreamboat Annie của Mushroom Records sản xuất năm 1976 tại Mỹ. Đĩa ghi các bản như Magic Man, Dreamboat Annie (Fantasy Child), Crazy On You... (ở mặt một), và White Lightning & Wine (Love Me Like Music), Sing Child... (mặt hai). Nghe LP này, chúng tôi quên mệt vì nó mang lại sự sảng khoái nhờ nét mộc mạc, trống, chiêng, bass, nhịp, guitar và hai nữ ca sĩ điêu luyện Ann Wilson và Nancy Wilson…

    Tham gia khảo sát:

    Phần cứng: Phono pre Clearaudio Basic Plus (trọn bộ cùng power supply); đối chứng Phono pre Clearaudio Nanophono. Turntable Pioneer XL-1551. Ampli đèn tích hợp Separo SE300I + Loa AR TSW 610. Ampli đèn tích hợp Rogue Audio Cronus Magnum + Loa JBL Control Monitor 4312A. Dây tín hiệu Analysis Plus Oval IW và dây loa Analysys Plus Oval 12/2. Lọc điện APC, biến áp cách ly ACME.

    Phần mềm: LP: Hi-Fi Orgel Bach – Walcha (Archiv Produktion 1971). J.S.Bach: Mass in B-minor BWV 232 (RCA Victrola 1974). LP Schubert Schwanengesang – Dietrich Fischer – Dieskau (Baritone – nam trung) và Gerald Moore (piano) (Angel 1955). Heart Dreamboat Annie (Mushroom Records 1976). Fontana – Gloria Series: Prokofiev Symphony No 1 in D-Major Op.25 “Classical” & Shostakovich Symphony No5 Op.47 (Fontana sản xuất tại Nhật năm 1975). John Williams/Eugene Ormandy: Rodrigo Concerto de Aranjuez & Castelnuovo-Tedesco Concerto in D (Columbia Records). John Denver’s Greatest Hits (RCA, 1973) và các đĩa khác…

    Cung cấp phono pre: Audio Choice.