• Thứ Bảy, 30/06/2012 08:26 (GMT+7)

    Paradigm Monitor 11 v7 - loa hi-end 'giá hiền'

    Bài và ảnh: Như Dũng
    Loa cột "5 củ 3 đường" Paradigm Monitor 11 v7 sản xuất năm 2012 một lần nữa khẳng định ưu thế cuả dòng loa Monitor "chất lượng cao - mức giá tốt” của hãng Paradigm (Canada).

    Phải mất 15 năm để xây dựng đấu trường thành Rome với một kiến trúc tồn tại theo thời gian sau nhiều thế kỷ. Các loa Paradigm Monitor là một điển hình sử dụng ý tưởng thiết kế đó. Từ khi xuất xưởng, dòng Monitor đã mất hơn 10 năm cải tiến để mang lại cho người chơi âm thanh sê-ri Monitor 11 v7 có toàn cảnh âm thanh tinh khiết, bay bổng, rõ nét ngay cả ở băng thông cao. 

    Paradigm Monitor 11 v7 gồm 5 củ loa, trong đó có 1 treble dome, 1 bass/midrange và 3 bass, với những công nghệ đặc biệt lần đầu tiên được Paradigm áp dụng.
    * Củ treble S-Pal Satin-Anodized Pure-Aluminum Tweeter (1 cái 2,5cm): nam châm mạnh có chất lỏng làm mát được dùng nhằm tăng tính nhất quán với củ loa bass/mid.
    * Củ bass/midrange S-Pal Satin-Anodized Pure-Aluminum (1 cái 14cm): màng nhôm tinh khiết mạ satin trắng như loa gốm có độ cứng cao, giảm xóc nội bộ, giúp cho âm trung rộng mở.
    * Củ bass (3 cái 16.5cm) màng nhựa phun carbon đen, nam châm lớn. Kết quả, âm bass tăng sức mạnh.
    * Bộ cắt tần số (Crossover) tinh vi, linh kiện quý được lấy từ dòng sản phẩm Paradigm mức giá cao.
    * Nam châm lớn, tối ưu hóa cấu trúc động cơ/nam châm.
    * Lưới bảo vệ và khung dẫn sóng âm loa treble Wire Mesh Tweeter Guard.
    * Thùng loa sử dụng gỗ MDF dày 1,9 cm, có vách ngăn sóng âm và hấp thụ âm dội.
    * Chân loa có kiểu mới, đế chữ nhật giúp loa hoạt động ổn định.

    Sau khi khui thùng, loa được chạy rà bằng ampli bán dẫn tích hợp Technics SU-V100D công suất 150W/bên 6Ohm (đầu quay CD Denon DCD 3300, dây tín hiệu và dây loa của Analysis Plus). Mục đích sử dụng ampli bán dẫn để chạy rà loa thoạt đầu chỉ là cho đỡ hao điện nhưng kết quả đạt thu được hơn mong đợi: Loa và ampli bán dẫn thật tương thích.

    Đặc tính kỹ thuật:

    Thiết kế 5 củ loa, 3 đường tiếng, có lỗ phản xạ trầm (bass reflex)
    Cắt tần số ở 2,2 kHz, 700 Hz
    S-Pal Satin-Anodized Pure-Aluminum Tweeter (1) treble dome màng cứng - có chất làm lạnh
    Bass/Midrange M-(ICP) màng 165 mm (1) với cuộn voice 25 mm và khung tản nhiệt đúc
    Bass carbon-infused (3) màng polypropylene 165 mm, cuộn dây 25 mm, khung tản nhiệt đúc
    Tần số thấp mở rộng 30Hz (DIN)
    Tần số đáp ứng: 42 Hz - 22 kHz ở ± 2 dB
    Độ nhạy 93 dB/90 dB
    Amplifier thích hợp: 50 - 250 Watt
    Công suất đầu vào tối đa: 180 Watt
    Trở kháng: 8 Ohm
    Kích thước chưa có đế (cao, rộng, sâu): 105,2 cm x 20,0 cm x 34,3 cm
    Khối lượng: 25,1 kg (net)
    Màu: đen hay nâu
    Giá tham khảo 1.600 USD (~33,6 triệu đồng)
    Bảo hành: 2 năm.

    Monitor 11 v7 là loa lớn của Paradigm, toàn dải. Diện tích đáy của tháp âm thanh không quá rộng nhưng vững chãi, sâu và đặc, như hình dáng của loa vậy. Nhìn chung, bass của Monitor 11 v7 không hề thua kém các cặp loa thùng quý với bass 3 tấc trở lên. Tháp âm thanh của loa cũng không bị thay đổi tiết diện đột ngột giữa các dải. Âm trung trung thực, chi tiết. Âm cao sắc xảo, tơi mịn, đủ dịu.

    Nghe CD Helene Grimaud – Beethoven Piano Concerto No5 “Emperor” etc. cho thấy kết quả không thua kém những lần nghe lớn trước đây bao nhiêu. Khả năng diễn đạt của cặp loa rất chi tiết cho dù các màn chạy trên piano của Grimaud có ào ạt, mạnh mẽ, cuốn hút đến đâu. Sự thua sút có chăng chỉ là ở “một chút gầy guộc”, “một chút rời rạc ít quyện hơn” so với những lần nghe lớn trên những cặp loa gấp ba, gấp bốn lần tiền. Hơn nữa, những khiếm khuyết nhỏ này của Monitor 11 v7 cũng được khắc phục đáng kể khi chuyển sang nghe với ampli đèn.

    Dùng chức năng power của ampli tích hợp bán dẫn Technics SU-V100D và chức năng phono pre của ampli đèn Rogue Audio Cronus Magnum (dây nguồn Analysis Plus Pro Power Oval) để nghe mâm đĩa than Pioneer XL-1551 mang lại kết quả bất ngờ. Chất âm “lai” bán dẫn với đèn vừa dứt khoát, vừa mềm mại vốn là những thuộc tính trái ngược nay bổ khuyết. Chung cuộc là chất âm đèn.

    Box 2 LP (đĩa than) Benny Goodman (Big Bands - Half-Speed Mastered, Time Life Music sản xuất tại Mỹ năm 1983) ghi nghệ sĩ độc tấu clarinet Benny Goodman cùng ban nhạc jazz là một album mono. Mono (âm đơn - có gì thu nấy, thu sao phát vậy, hai loa kêu như nhau) là một chuẩn âm thanh ra đời trước chuẩn stereo (âm nổi). Không nịnh tai nhưng nó sâu và trung thực. Định dạng mono trong 2 LP này hợp với tính “ề à” của jazz thời nó thịnh hành đầu thế kỷ 20. Sự mềm mại, uyển chuyển toát ra từ loa cột Monitor 11 v7 là một trong nhiều ngạc nhiên thú vị.

    Nghe CD Carol Kidd – Gold (Linn Gold: Genuine 24K Gold CD) với ampli đèn tích hợp Single End Separo SE300I (chạy 2 bóng công suất 300B-98) công suất 10 watt RMS (dây nguồn Furutech FP 314 Ag II) cho thấy cặp loa công suất cao Monitor 11 v7 không kén ampli công suất thấp Separo SE300I. Ngay bản đầu tiên When I Dream với khúc dạo đầu bằng guitar thùng bập bừng, dạt dào và giọng ca ngọt ngào của nữ ca sĩ giọng trầm Carol Kidd khiến người nghe không muốn bỏ dở album 51’39” sản xuất năm 1995 tại Anh bởi Linn Records này.

    Cặp loa có lẽ thích hợp cả với ampli đèn Cronus Magnum công suất 90W/bên đầy sung sức. Nó “thêm da, thêm thịt” cho các tiếng nhạc mà Monitor 11 v7 phát ra. CD The Best of Barbara Bonney (Teldec sản xuất năm 1995 tại Đức) có 15 ca khúc cổ điển với bản đầu là Ave Maria của Schubert dễ khiến người nghe tập trung để nghe hết cả album với tâm trạng thoải mái…

    Ưu điểm: Gọn, đẹp, dễ bài trí. Thể hiện tốt nhiều dòng nhạc, nhiều định dạng thu thanh
    Nhược điểm: Loa cao, sâu và khá nặng, gây khó cho việc di chuyển với một người.
    Tuy nhiên, cũng với ampli Cronus Magnum, nghe cassette Antonin Vivaldi 8 Concerti do The English Concert & Trevor Pinnock biểu diễn (Archiv Production sản xuất năm 1988 – sản phẩm thuộc dòng 3D Baroque Digital Recording) là ấn tượng nhất. Các concerto của Vivaldi không hoành tráng như của các tác giả về sau, có thể xếp gọn vào dòng thính phòng (mà mọi người gọi chung là nhạc hoà tấu). Chúng nhỏ, "dễ thương" với vài phút một chương. Thú vị hơn cả khi nghe với Paradigm Monitor 11 v7 là Concerto G major cho 2 Mandolin, RV 532. Tiếng mandolin độc tấu vuông vức, sắc nét, lảnh lót, cao vọi. Những tiếng vọng kéo theo đuôi từng nốt của nó chứng tỏ bản thu rất chính xác. Rất khó để sao nhãng màn biểu diễn của Monitor 11 v7 khi nghe những bản nhạc như vậy.

    Cặp loa phù hợp cho bộ dàn hi-end ở ngưỡng 7.000 USD - 8.000 USD (~147 - 168 triệu đồng).

    Tham gia khảo sát:

    Phần cứng: Ampli bán dẫn tích hợp Technics SU-V100D, ampli đèn tích hợp Separo SE300I, ampli đèn tích hợp Rogue Audio Cronus Magnum; CD Player Denon DCD 3300; Turntable Pioneer XL-1551 (kim MM Audio Technica). Dây tín hiệu Analysis Plus Oval IW; dây loa Analysis Plus Oval 12/2; dây nguồn Analysis Plus Pro Power Oval (Magnum) và Furutech FP 314 Ag II (Separo); lọc điện APC, APV, biến áp cách ly ACME.

    Phần mềm: LP: Box 2 LP Benny Goodman (Big Bands – Half-Speed Mastered, Time Life Music, 1983, Mỹ). CD: Helene Grimaud – Beethoven Piano Concerto No5 “Emperor” etc; Carol Kidd – Gold (Linn Gold: Genuine 24K Gold CD); The Best of Barbara Bonney (Teldec, 1995, Đức). Cassette Antonin Vivaldi 8 Concerti - The English Concert & Trevor Pinnock (Archiv Production, 1988, Đức).

    Cung cấp loa: Audio Choice.