• Thứ Ba, 16/12/2003 15:10 (GMT+7)

    Thiết lập phần mềm chống virus



    Hình: 1


    Sử dụng phần mềm chống virus để bảo vệ hệ thống máy tính là việc làm hết sức cần thiết trong tình hình virus máy tính xuất hiện tràn lan như hiện nay. Số lượng các phần mềm chống virus hết sức phong phú, trong số tháng 07/2002 tạp chí Thế Giới Vi Tính đã có dịp giới thiệu với bạn đọc 7 phần mềm chống virus tiêu biểu nhất. Tất cả các phần mềm đề cập có đầy đủ các chức năng cần thiết, bảo đảm cho máy tính được an toàn. Tuy nhiên, do phương thức hoạt động, giao diện, cách đặt tên cho các chức năng hoặc do yêu cầu về tốc độ của hệ thống, nên một số chức năng bảo vệ đã bị người dùng vô hiệu hoá, tạo ra những kẽ hở không đáng có. Bài viết này sẽ điểm qua những chức năng tiêu biểu của một số phần mềm phổ biến tại Việt nam như: Norton Antivirus, McAfee, D2 (Trương Minh Nhật Quang) hay BKAV (Nguyễn Tử Quảng)... nhằm giúp các bạn có thêm thông tin để bảo vệ mìnhan toàn nhất. Cũng cần lưu ý là các chức năng tiện ích của phần mềm chống virus trong nước không được phong phú, chuyên nghiệp như các phần mềm cùng loại của nước ngoài.

    Văn Lê
    PC World Mỹ 01/2003


    1. Để phần mềm chống Virus chạy thường trực.



    Hình: 2



    Hình: 3

    Hầu hết các phần mềm chống virus đều có khả năng giám sát 24/24 việc lây nhiễm virus trên tất cả các loại tập tin trong máy tính. Nên kiểm tra kỹ để chắc chắn tính năng này không bị vô hiệu hóa đối với tất cả các loại tập tin mà phần mềm có khả năng giám sát. Cũng nên tìm hiểu để khai thác hết các tính năng đặc biệt mà phần mềm chống virus cung cấp, ví dụ Norton Antivirus có thể giám sát tất cả e-mail được trao đổi giữa máy tính của bạn với các máy khác trên mạng.

     

    2. Đảm bảo tất cả các loại tập tin đều được kiểm soát.
    Mặc dù, về mặt kỹ thuật cấu trúc của một vài loại tập tin không thể bị lây nhiễm virus, nhưng đây chính là kẽ hở có thể bị lợi dụng, vì vậy bạn nên khai báo để phần mềm chống virus kiểm soát tất cả các loại tập tin, ngay cả đối với tập tin nén.

     

    3. Bật chế độ tự động cập nhật Virus.

    Đây là thủ tục rất quan trọng để phần mềm chống virus luôn có khả năng nhận dạng mọi loại virus hiện có. Ví dụ, Norton Antivirus, trong chế độ tự động cập nhật (LiveUpdate) phần mềm này sẽ định kỳ liên lạc với web site của nó trên internet để cập nhật thông tin nhận dạng virus mới nhất. Đối với các phần mềm yêu cầu bạn xác định tần xuất cập nhật các tập tin nhận dạng virus mới tốt nhất bạn nên khai báo chế độ tự động cập nhật 1 ngày một lần. Ngoài ra, các phần mềm chống virus đều cho phép người dùng cập nhật các loại virus mới khi cần thiết.

     

    4. Sử dụng chức năng quét Virus thông minh (heuristic).



    Hình: 4

    Thường thì virus sẽ xuất hiện trước khi các phần mềm chống virus được cập nhật tên hay dấu hiệu nhận biết virus mới. Nhưng cách thức lây nhiễm của virus vào hệ thống lại không khác nhau mấy, nên  hầu hết các phần mềm chống virus đều có chức năng tự động nhận biết dấu hiện xâm nhập bất thường có khả năng là do virus gây ra (heuristic) để cảnh báo cho người dùng. Việc đặt tên chức năng thay đổi tuỳ từng phần mềm, ví dụ như Norton Antivirus gọi là Bloodhound, McAfee gọi là H.A.W.K....



    Hình: 5

    5. Sử dụng chế độ sữa chữa tự động.
    Nên chọn và tìm hiểu kỹ ý nghĩa của các tham số điều khiển phần mềm chống virus hành xử khi phát hiện tập tin bị nhiễm virus. Thường các phần mềm này sẽ tự động sửa chữa các tập tin bị nhiễm, nhưng một số phần mềm vẫn cho phép người dùng can thiệp vào quá trình này. Trong trường hợp phát hiện ra virus nhưng không tự động sửa chữa được, phần mềm chống virus sẽ hỏi và hướng dẫn thực hiện một số biện pháp thích hợp.

     

    6. Định kỳ quét Virus toàn bộ hệ thống.



    Hình: 6

    Mặc dù phần mềm chống virus hoạt động thường trực nhưng bạn nên định kỳ quét virus toàn bộ hệ thống để phát hiện những virus bằng cách nào đó thâm nhập vào máy mà không bị phát hiện. Hầu hết các phần mềm chống virus đều có chức năng lập lịch để quét virus toàn bộ hệ thống vào thời điểm máy tính không hoạt động hay rảnh rỗi. 

     

    7.Sử dụng hết các chức năng đặc biệt.
    Một số phần mềm chống virus có thêm một vài chức năng đặc biệt như quét virus trong thư điện tử, tin nhắn (instant message)... Hãy tìm cách sử dụng hết các chức năng mới có trong phần mềm chống virus của bạn.



    Hình: 7

    8.Cập nhật các dấu hiệu nhận dạng Virus.
    Mặc dù đã sử dụng chế độ định kỳ tự động cập nhật các loại virus mới nhưng cũng nên tạo cho mình thói quen tự thực hiện chế độ này, đây là một thói quen tốt để phần mềm của bạn luôn luôn có khả năng phát hiện được các loại virus mới nhất.

     

    9. Tạo đĩa dự phòng


                     
    Hình: 8                                             Hình: 9

    Trong quá trình sử dụng sẽ xảy ra một vài tình huống bất khả kháng như: phần mềm chống virus phát hiện ra virus nhưng không thể tự động sửa chữa tập tin bị nhiễm hoặc virus (bằng cách nào đó) tránh được sự giám sát của phần mềm chống virus, xâm nhập vào máy, phá hoại và làm “treo” máy. Đối với những tình huống này, không có cách nào khác hơn là khởi động lại máy bằng đĩa mềm hệ thống (không bị nhiễm virus) và tiến hành phục hồi dữ liệu đã được sao lưu trước khi bị nhiễm virus. Một số phần mềm chống virus có chức năng tạo đĩa khởi động hệ thống và sao lưu dữ liệu.

    ID: A0301_96