• Thứ Ba, 16/12/2003 16:56 (GMT+7)

    Đơn giản hóa bảo dưỡng đĩa bằng shortcut tùy biến


    Nếu thường xuyên dùng ScanDisk và Disk Defrag-menter của Windows, nhiều khả năng bạn sẽ điên đầu với quá nhiều tùy chọn trong các hộp thoại mỗi khi chạy những công cụ này. Bạn có thể tránh điều phiền muộn đó bằng cách thêm vào một ít thông số dạng dòng lệnh và chuyển thành shortcut (đường dẫn tắt chỉ đến ứng dụng) thích hợp. Bạn cũng có thể tạo nhiều shortcut với các dòng lệnh khác nhau cho các mục đích khác nhau.
    Để làm cho ScanDisk và Disk Defragmenter tự động hơn, bạn nhấn chuột phải nút Start và chọn Open hoặc Explore. Định vị và chọn shortcut ScanDisk hoặc Disk Defragmenter (theo mặc định chúng nằm trong menu Start\Programs\ Accessories\System Tools). Nếu muốn tạo bản sao của shortcut, bạn chỉ cần nhấn rồi giữ nút phải của chuột để kéo biểu tượng này đến vị trí đã chọn, sau đó chọn Copy Here hoặc Create Shortcut(s) Here. Tiếp theo, bạn ấn phím <Alt>-<Enter> để mở trang Properties của biểu tượng này. Nhấn chuột vào thẻ Shortcut rồi nhấn lên chỗ cuối dòng lệnh trong hộp thoại Target.
    Đối với shortcut ScanDisk, bạn gõ một bước cách rồi gõ tên kí tự của ổ đĩa mà bạn muốn quét, tiếp theo là dấu hai chấm, ví dụ C:. Lặp lại đúng như vậy đối với mọi ổ đĩa khác mà bạn muốn kiểm tra. Để quét tất cả các ổ cứng cục bộ (không quét ổ mạng và ổ tháo lắp), bạn bỏ qua các thông số tên chữ ổ đĩa và thay vào đó, bạn gõ ký hiệu khóa /a (không được quên quy tắc là mọi tùy chọn thêm vào dòng lệnh phải đặt sau một bước cách). Nếu muốn ScanDisk khởi chạy và ngừng mà không hỏi, bạn nhập khóa /n vào dòng lệnh.
    Ngay trong trường hợp dùng khoá /n, ScanDisk vẫn có thể dừng để báo lỗi. Nếu không cần những thông tin này, bạn khởi chạy ScanDisk và đánh dấu chọn Automatically fix errors. Bạn sẽ phải nhấn Start và cho chạy ScanDisk ít nhất một lần để cố định thiết lập này. Cuối cùng nếu muốn ScanDisk chạy trong chế độ Preview (chỉ tìm lỗi mà không sửa lỗi), bạn dùng khóa /p. Nên nhớ rằng chế độ Preview có thể gây ảo tưởng các lỗi đã được sửa nhưng thực tế thì chưa. Khi kết thúc, bạn có thể có một dòng lệnh đại khái là: C:\windows\ scandskw.exe C: D: /n (hình 1). Ví dụ này sẽ chỉ thị cho tiện ích tiến hành kiểm tra các ổ đĩa C: và D: rồi tự động thoát ra khi kết thúc.

     


    Hình 1: Thực hiện quét đĩa tùy biến thông qua dòng lệnh của shortcut ScanDisk.

    Đối với shortcut Disk Defragmenter, bạn có thể gõ các tên kí tự ổ đĩa (kể cả dấu hai chấm) vào dòng lệnh Target giống như đã làm với ScanDisk. Để dồn đĩa đối với tất cả các ổ cứng cục bộ, bạn chỉ cần thêm khóa /all. Nếu chỉ muốn dồn đĩa sao cho từng tập tin được lưu giữ liên tục trên đĩa, và không hợp nhất các khoảng trống lại với nhau, bạn dùng khoá /u. Ngược lại, nếu muốn hợp nhất các khoảng trống mà không cần dồn các tập tin, bạn gõ /q. Nếu muốn vừa dồn các tập tin vừa hợp nhất  các khoảng trống, dùng khoá /f (chú ý: các khóa /u, /q và /f loại trừ lẫn nhau nên chỉ dùng một thứ). Để làm cho Disk Defragmenter bắt đầu và kết thúc mà không đòi hỏi các thiết lập hoặc hiển thị các thông báo, bạn dùng /noprompt. Cuối cùng nếu muốn chỉ nhìn thấy một cửa sổ Defragmenter nhỏ (mặc định), bạn gõ /concise, ngược lại gõ /detailed bạn sẽ nhìn thấy bản đồ biểu diễn quá trình dồn đĩa. Bạn chỉ gõ một trong hai khóa chuyển đổi hoặc /concise hoặc /detailed hoặc không gõ vào (khi này mặc định sẽ là /concise). Dòng lệnh kết quả cuối cùng có thể là C:\windows\defrag.exe /all /f /noprompt nếu bạn muốn dồn đĩa đối với tất cả ổ cứng cục bộ và hợp nhất các khoảng trống, không tương tác với người dùng, trong chế độ quan sát tiến trình mặc định.

    Dùng Shortcut hoặc bàn phím
    Để quản lý nhiều màn hình, Windows đã cung cấp cho chúng ta một số trợ giúp: nhấn chuột phải thanh tác vụ và chọn một tùy chọn để các cửa sổ lợp kín chiều dọc hay chiều ngang (tile), hoặc xếp chồng (cascade).
    Bạn có thể lợp kín hay xếp so le các cửa sổ nhanh hơn từ bàn phím, hoặc có thể tạo biểu tượng ở Quick Launch hay thanh công cụ khác đơn giản chỉ bằng một dòng script thích hợp.
    Bạn mở Notepad hoặc một trình soạn thảo văn bản nào đó rồi gõ dòng script new AchiveX Object(“Shell.Application”) .CascadeWindows(). Chọn File•Save As. Chuyển đến một thư mục thích hợp và gõ một tên như”Cascade.js” thêm các dấu ngoặc kép để Notepad không gắn đuôi tập tin .txt mặc định của nó vào. Nhấn Save. Để kiểm tra dòng script này, bạn mở Explorer và định vị biểu tượng tập tin mà bạn vừa lưu. Khi nhấn đúp biểu tượng đó, các cửa sổ mở trên desktop sẽ phải xếp so le chồng lên nhau.
    Để tạo dòng script có tác dụng xếp các cửa sổ mở lợp kín theo chiều dọc hoặc chiều ngang, bạn lặp lại những bước như đã trình bày trên nhưng thay Cascade Windows() bằng TileHorizontally() hoặc TileVertically(), và lưu lại dưới dạng các tập tin .js.
    Nếu muốn truy cập nhanh đến các script, bạn dùng nút chuột phải để kéo các tập tin này từ cửa sổ Explorer và thả chúng vào trong menu con thích hợp của menu Start, bên trên thanh công cụ Quich Launch, hoặc trên thanh công cụ khác. Khi thả nút chuột, bạn chọn Create Shortcut(s) Here. Từ đây về sau, việc lợp kín hoặc xếp chồng tất cả các cửa sổ chưa thu nhỏ tối thiểu sẽ được thực hiện chỉ bằng một cú nhấn chuột lên các shortcut.
    Lưu ý, trường hợp máy tính của bạn gắn kết JavaScript với Notepad hay một trình biên tập văn bản nào đó, nó sẽ không chạy được tập tin script này. Để khắc phục, sau khi đã đặt shortcut vào menu hoặc thanh công cụ, bạn nhấn chuột phải trên shortcut này và chọn Properties. Kiểm tra để chắc chắn thẻ shortcut được chọn, nhấn chuột lên chỗ bắt đầu của hộp văn bản Target. Gõ wscript.exe và một bước cách. Nhấn OK.
    Nếu muốn lợp kín hoặc xếp chồng các cửa sổ bằng phím tắt, bạn phải đặt biểu tượng shortcut đó trên desktop hoặc trên một menu nằm trong hệ thống menu Start (ví dụ như menu có tên là “Keyboard Shortcuts” để dễ tìm và thay đổi về sau). Nhấn chuột phải lên biểu tượng shortcut đó và chọn Properties. Bảo đảm thẻ Shortcut nổi lên. Nhấn chuột trong hộp “Shortcut key” và ấn tổ hợp phím mà bạn muốn. Windows buộc bạn phải có ít nhất hai phím điều khiển (trong các phím <Ctrl>, <Shift> và <Alt>) trừ trường hợp bạn ấn một phím chức năng hoặc một phím trên phần phím số. Cần nhớ rằng các phím mà bạn chọn sẽ không còn tác dụng trong bất kỳ ứng dụng Windows nào. Nhấn OK và công việc của bạn hoàn thành. Sau này nếu muốn loại bỏ phím tắt, bạn chỉ cần quay lại hộp thoại này, nhấn chuột trong hộp “shortcut key”, và nhấn phím <Backspace>. Sau đó nhấn OK và khởi động lại Windows.


    Hình 2: Tùy biến các biểu tượng Quick Launch để dễ tìm thấy thứ cần dùng.

    Nếu khởi chạy các script từ thanh công cụ Quich Launch, có thể bạn sẽ muốn gán cho chúng biểu tượng riêng để nhận biết nhanh hơn. Nếu không có sẵn biểu tượng thích hợp, bạn có thể dùng một trình biên tập biểu tượng thuộc phần mềm chia sẻ nào đó để tạo biểu tượng riêng cho mình. Một công cụ thuộc phần mềm miễn phí (rất cơ bản) là Icon Editor 2.1 của Gary Hodder, bạn có thể vào find.pcworld.com/31904 để tải xuống.

    Sau khi đã tạo và lưu các tập tin biểu tượng của mình (hoặc tìm được biểu tượng có sẵn phù hợp với mình), bạn nhấn chuột phải lên một trong các shortcut này trong thanh công cụ Quich Launch, và chọn Properties. Với thẻ shortcut được chọn, bạn nhấn Change Icon. Nhấn Browse, chọn tập tin biểu tượng của bạn, rồi nhấp Open. Với biểu tượng đã chọn nằm trong hộp thoại, bạn nhấn OK hai lần. Lặp lại các bước này cho từng biểu tượng thanh công cụ của bạn. Để tạo hiển thị thông tin đầy đủ cho từng biểu tượng Quick Launch, bạn nhấn chuột phải nó và chọn Rename. Bạn gõ những chữ mà bạn muốn nhìn thấy khi giữ con trỏ trên nút đó (hình 2). Nhấn OK.
    Từ nay về sau, bất kỳ lúc nào quá nhiều cửa sổ lộn xộn, bạn chỉ cần “chơi” phím tắt hoặc nhấn chuột lên một trong những biểu tượng Quick Launch vừa  tạo. Nếu thay đổi ý định, bạn có thể “undo” cách sắp xếp cửa sổ mới bằng cách ấn phím <Ctrl>-Z ngay sau đó. Lưu ý là động tác này sẽ không có tác dụng nếu trình ứng dụng hoạt động sau cùng có dùng phím <Ctrl>-Z cho những mục đích riêng của nó; một cách khác là nhấn chuột phải lên thanh tác vụ và chọn Undo Cascade.

     

    Tạo tập sách các mẫu Font
    Bạn có thể duyệt trước các font bằng cách đưa chúng vào văn bản trong tài liệu, hoặc bằng cách nhấn đúp các tập tin font trong thư mục Fonts để mở cửa sổ chứa thông tin về font và văn bản mẫu. Tuy nhiên, nếu nhận thấy những cách này mất thời gian, thì bạn cứ in ra giấy các font.


    Hình 3: In một bộ mẫu các font thường dùng của mình để tham khảo nhanh

    Rất may, việc làm tập sách mẫu font khá dễ. Để in các mẫu font TrueType của Windows, bạn chọn Start•Settings•Control Panel và nhấn đúp Fonts (trong XP, bạn dùng Start•Control Panel, chọn Switch to Classic View nếu bạn đang trong Category View, và mở Fonts). Nhấn giữ phím <Ctrl> và nhấn chuột lên từng font mà bạn muốn đưa vào trong sách mẫu. Nhấn phải một trong các chỉ mục đã chọn và chọn Print (hình 3). Lúc này bạn phải nhấn Print hoặc OK và Done nhiều lần để xác nhận lệnh Print này và đóng các cửa sổ preview lại.
    Bạn có thể đóng các tờ mẫu font của mình thành dạng tập sách để xem từng tờ khi cần tìm font thích hợp. Khi thêm, bớt font trong máy tính, bạn phải thêm, bớt các trang mẫu font tương ứng.
    Nếu có font PostScript bạn nên bổ sung luôn vào bộ mẫu của mình. Bạn cần có Adobe Type Manager để dùng, xem, hoặc in các font PostScript Type 1 trong Windows 9x và Me, hay các font Adobe’s Multiple Master trong mọi phiên bản Windows. Bạn vào find.pcworld.com/31910 để tải xuống phiên bản miễn phí của phần mềm này, phiên bản ATM Light. Khi đã cài đặt xong ATM, bạn mở nó và nhấn chuột lên thẻ Fonts. Chọn các font mà bạn muốn có mặt trong bộ mẫu của mình, nhấn chuột phải một trong các chỉ mục đã điểm sáng, chọn Prints•Sample Sheets, nhấn OK.
    Trong Windows 2000 và XP bạn không cần có ATM để quản lý các font Type 1. Bạn sẽ thấy chúng trong cửa sổ Fonts cùng với các fonts TrueType. Nếu không thấy chúng, bạn định vị các tập tin .pfm của chúng trên ổ cứng, chọn các tập tin đó và kéo chúng vào cửa sổ Fonts để cài đặt.

    Bùi Xuân Toại
    PC World Mỹ 2/2003

    ID: A0302_72