• Thứ Tư, 17/12/2003 10:28 (GMT+7)

    Thông báo lỗi XP: Chỉ báo những gì cần thiết

    bạn đang suy nghĩ về công việc, đang sử dụng máy tính theo đúng cách thì bỗng nhiên xuất hiện thông báo cho biết có một ứng dụng hay một phần tử Windows nào đó “đã gặp trục trặc và cần phải đóng lại” (... encountered a problem and needs to close). Chú ý cách dùng từ: Rõ ràng không phải lỗi của ứng dụng, ứng dụng chỉ ngẫu nhiên gặp nó. Dữ liệu mà bạn mới làm xong có thể bị mất.


    Hình 1: Báo cáo sự cố của Windows cho MIcrosoft bằng các tùy chọn này

    Ít nhất trong Windows XP bạn cũng có thể báo cho Microsoft biết về trục trặc này. Khi gặp thông báo lỗi, bạn nhấn Send Error Report để chuyển thông tin cho Microsoft để họ ngăn ngừa loại trục trặc này trong các phiên bản sau này, hoặc trong bản cập nhật Windows nào đó.

    Nếu muốn biết mình đang gửi những gì cho Microsoft, bạn nhấn lên liên kết trong thông báo lỗi. Chẳng may, việc “đào bới” thông tin để chọn ra những gì có trong báo cáo lỗi không hề đơn giản. Báo cáo bao gồm một số thông tin vốn có trong bộ nhớ của hệ thống tại thời điểm bị sự cố, chẳng hạn như danh sách ứng dụng đang chạy ở thời điểm gặp trục trặc. Ngoài ra, nếu bạn đang làm việc với một tài liệu thì một số hoặc tất cả thông tin của tập tin đó cũng có thể được đưa vào báo cáo. Thậm chí trong báo cáo còn có một số mật khẩu của bạn.

    Microsoft cho biết họ dùng những thông tin này chỉ để kiểm tra chất lượng, không dùng cho mục đích tiếp thị hoặc theo dõi người dùng và máy tính. Microsoft tuyên bố sẽ hủy những thông tin nào không giúp ích trong việc giải quyết trục trặc, kể cả những dữ liệu có ích cũng sẽ được xóa bỏ khi trục trặc đã được làm sáng tỏ. Có điều nếu gặp sự cố, bao giờ bạn cũng muốn quay lại với công việc càng sớm càng tốt. Dĩ nhiên, giải pháp nhanh nhất là nhấn chuột lên Don’t Send. Tuy vậy, cũng có những lúc bạn chỉ muốn báo cho Microsoft biết một ít về sự cố hệ thống. Rất may, Windows XP có dành cho bạn một cách tùy biến việc báo cáo lỗi để bảo đảm chỉ gửi những thông tin nào bạn muốn chia sẻ – hoặc không gửi gì cả.

    Bạn nhấn phải My Computer và chọn Properties (nếu không có biểu tượng My Computer trên desktop, bạn cho chạy Windows Explorer và nhấn phải My Computer trong khung bên trái). Nhấn nhãn Advanced trong hộp thoại System Properties, rồi chọn nút Error Reporting. Sau đây là các tùy chọn.

     

    Chỉ báo lỗi Windows: Nếu bạn sẵn lòng báo cho Microsoft bất cứ lúc nào Windows gặp trục trặc, nhưng lại không muốn tiết lộ những ứng dụng đang dùng, bạn bỏ chọn đối với Programs nằm bên dưới ‘Enable error reporting’ nhưng để lại đánh dấu chọn Windows operating system (xem Hình 1). Nhấn OK hai lần.

     


    Hình 2: Hạn chế báo cáo lỗi bằng cách liệt kê ứng dụng trong Choose Programs

    Báo lỗi các chương trình Microsoft: Muốn gửi báo cáo lỗi cho Microsoft khi các ứng dụng gặp trục trặc, bạn đánh dấu chọn Programs và sau đó nhấn Choose Programs. Theo mặc định, All programs được chọn trong hộp thoại Choose Programs, nhưng bạn có thể hạn chế bằng cách nhấn chọn All programs in this  list. Nếu chỉ báo cáo những trục trặc của các ứng dụng Microsoft (như Word và Excel chẳng hạn), bạn giữ nguyên đánh dấu chọn Programs from Microsoft. Để báo cho Microsoft về các trục trặc đối với các từng thành phần Windows cụ thể (như Paint và WordPad chẳng hạn), bạn đánh dấu chọn Windows component.

     

    Chọn ứng dụng: Để bổ sung danh sách các chương trình báo cáo, bạn nhấn Add trong hộp thoại Choose Programs và gõ tên tập tin có thể thực thi của từng ứng dụng (tập tin có đuôi .exe). Nếu không biết rõ tên, bạn nhấn Browse, tìm và chọn chương trình, nhấn Open, rồi nhấn OK. Bạn có thể bổ sung các chương trình không phải của Microsoft vào danh sách, hoặc chỉ báo cáo các ứng dụng Microsoft hay các thành phần Windows nào đó. Sau khi đã bổ sung các chương trình vào danh sách, bạn bỏ chọn đối với Programs from Microsoft và/ hoặc Windows components, sau đó nhấn OK một số lần cần thiết.

     

    Chọn lựa loại trừ: Không mấy khó khăn trong việc tạo một danh sách các ứng dụng mà bạn không muốn gửi báo cáo lỗi. Trong hộp thoại Choose Programs bạn chọn All programs hoặc All Programs in this list, rồi nhấn nút Add nằm dưới ‘Do not report errors for these programs’ (không phải nút Add nằm dưới ‘All programs in this list’). Gõ tên tập tin thực thi (.exe) của chương trình, hoặc nhấn Browse và chọn (xem Hình 2). Lặp lại quá trình này cho tất cả các ứng dụng mà bạn không muốn gửi báo cáo. Quan sát toàn bộ hộp thoại lại một lần nữa để đảm bảo các ô có đánh dấu chọn phản ánh đúng dự định báo cáo lỗi của bạn. Nhấn OK cho đến khi tất cả các hộp thoại đều được đóng lại.


                              Hình 3: Bỏ tính năng gửi báo cáo lỗi

     

















       
       
    Không báo cáo lỗi: Nếu không muốn cho Microsoft biết các trục trặc trong PC của mình, bạn chọn Disable error reporting trong hộp thoại Error Reporting và nhấn OK hai lần. Bây giờ, bất kỳ khi nào có một ứng dụng bị sự cố nhưng không thuộc loại được xác định bởi các thiết lập của bạn, bạn cũng sẽ nhìn thấy một thông báo lỗi tương tự như thông báo lỗi trước đây, nhưng không có yêu cầu phải gửi báo cáo (xem Hình 3).

         Không hiện thông báo lỗi: Để khỏi bị nhắc nhở về mọi lỗi hệ thống, bạn chọn Disable error reporting trong hộp thoại Error Reporting và bỏ chọn đối với But notify me when critical error occur. Tùy chọn này sẽ giúp bạn khỏi phải mất công đóng thông báo lỗi.

     

    Làm cho các thông báo gây được sự chú ý

    Khi máy tính thực hiện một tác vụ mất nhiều thời gian – như sắp xếp một cơ sở dữ liệu lớn hay sao lưu – bạn để mặc máy làm việc. Tuy nhiên đôi lúc máy đang chờ bạn trả lời một thông báo lỗi hay nhắc nhở nào đó. Rất may là không mấy khó khăn khi muốn làm cho Windows gây chú ý cho bạn.


            Hình 4: Windows làm bạn chú ý

     

    Bắt đầu bằng việc mở Control Panel: Trong Windows 9x, Me, và 2000, bạn chọn Start.Settings.Control Panel. Trong Windows XP, bạn chọn Start.Control Panel (nếu Control Panel đang trong trạng thái Category view, bạn nhấn Sound, Speech, and Audio Devices). Đến đây, bạn nhấn hoặc nhấn đúp biểu tượng Sounds, Sounds and Multimedia, hay Sounds and Audio Devices tùy phiên bản Windows. Với nhãn Sounds đã chọn, bạn chọn một trong các đề mục của danh sách Events, Sound Events, hay Programs Events đồng thời chọn một âm thanh phù hợp với nó trong danh sách Name (‘Sounds’ trong Windows XP).  Nhấn biểu tượng Play > để nghe thử. Phải bảo đảm bạn có thể nghe được các thứ tiếng Asterisk, Critical Stop, Default Sound (Default Beep), Exclamation, Program error và Question. Trong Windows XP, bạn  kiểm tra âm thanh System Notification, loại âm thanh tương ứng  với các thông báo dạng khung tròn hiện ra từ bên phải thanh tác vụ. Mặc định nó là tiếng nổ lốp bốp, bạn có thể thay đổi để gây chú ý hơn. Chọn các âm thanh cho các sự kiện khác tùy ý, rồi nhấn nút Save As để lưu lại các thay đổi của mình. Nhấn OK.

    Nếu bạn không muốn dùng âm thanh để gây chú ý, vẫn còn giải pháp khác. Bạn quay về Control Panel và nhấn hoặc nhấn đúp Accessibility Options (trong XP, có thể bạn phải nhấn liên kết này hai lần). Chọn nhãn Sound và đánh dấu chọn lên Use SoundSentry (xem Hình 4). Thao tác này sẽ chuyển đổi các âm thanh của bạn thành các chớp sáng. Nếu cần, bạn nhấn nút Settings và chọn khoản mục để chớp sáng – active windows, desktop hoặc title bar (còn gọi là caption bar trong hộp thoại này). Sau đó nhấn OK theo yêu cầu.

     

    Sự trở chứng của bộ nhớ

    Bất kỳ ai đã sử dụng Windows, hầu như đều gặp phải những lỗi bộ nhớ. Thông thường có thể nhận biết được lỗi này do gặp những câu như ‘X đã gây ra lỗi trang bất hợp lệ trong module nào đó’ (...caused an invalid page fault...) hoặc ‘X gây lỗi an toàn chung’ (...caused a general protection fault). Bạn cũng có thể gặp thông báo lỗi ‘Chương trình này đã gây ra lỗi nghiêm trọng’ (thường được ghi cùng với một mã lỗi). Trong hầu hết trường hợp, lỗi xảy ra khi có một bộ phận phần mềm định dùng một vùng trong bộ nhớ đã có bộ phận khác dùng rồi. Sau đây là những điều cần lưu ý khi giải quyết những lỗi trên.

    Bỏ qua nút ‘Details’: Một số thông báo lỗi liên quan bộ nhớ thường có nút Details có vẻ như sẽ cung cấp thông tin chi tiết cho bạn về điều gì đã xảy ra và nguyên do. Thế nhưng không phải vậy. Đừng cố đọc hoặc giữ lại danh sách này trừ trường hợp nhân viên hỗ trợ kỹ thuật yêu cầu.

     Lưu và khởi động lại: Mặc dù các phiên bản mới của Windows đã tốt hơn rất nhiều về khả năng tiếp tục hoạt động sau sự cố, nhưng vẫn có khả ngăn gặp rủi ro. Ngoài ra, ngay cả trường hợp không bị sự cố nữa trong phiên làm việc hiện tại, thì bộ nhớ còn lại cũng nhỏ nếu bạn không khởi động lại máy. Tốt nhất là nên lưu kết quả công việc trong tất cả các ứng dụng chưa được đóng do gặp sự cố và sau đó khởi động lại hệ thống.

    Cô lập nguyên nhân: khi đã qua đi cơn sốc do sự cố chương trình ứng dụng và có thể cả mất dữ liệu, công việc tiếp theo là tìm cho ra cách đề phòng để sự cố không lặp lại. Hãy nhớ lại những gì bạn đã làm ở thời điểm xảy ra trục trặc. Ví dụ, nếu bạn gặp một lỗi an toàn mỗi khi dùng con lăn chuột thì nhiều khả năng trục trặc đó liên quan đến trình điều khiển (driver) của chuột. Cách khắc phục nhanh nhất trong trường hợp này là đến web site của hãng sản xuất để tìm và tải về trình điều khiển mới và cài đặt. Bạn có thể đến find.pcworld.com/32723 để tham vấn Windows 98 and Windows Me Error Message Resource Center của Microsoft.

    Bùi Xuân Toại
    PC World 3/2003

     

     

    ID: A0303_98