• Thứ Hai, 22/12/2003 17:11 (GMT+7)

    Dùng lệnh để điều chuyển nhanh trong Windows

    Một số người thích trỏ và nhấn chuột khi dùng Windows; tuy nhiên nhiều người lại thấy việc gõ lệnh và địa chỉ web nhanh và hiệu quả hơn khởi chạy ứng dụng, mở tài liệu, chuyển trang web, và thực hiện các tác vụ mang tính thủ tục khác PC.


    Một số người thích trỏ và nhấn chuột khi dùng Windows; tuy nhiên nhiều người lại thấy việc gõ lệnh và địa chỉ web nhanh và hiệu quả hơn khởi chạy ứng dụng, mở tài liệu, chuyển trang web, và thực hiện các tác vụ mang tính thủ tục khác PC.
    Thanh Address: một nơi để bạn gõ lệnh vào là thanh Address có mặt cả trong cửa sổ folder của Explorer lẫn trong trình duyệt Internet Explorer. Nếu không thấy nó, bạn chọn View.Toolbars.Address Bar. Khi Explorer hoặc Internet Explorer đã hoạt động, bạn nhấn <Alt>-D để điểm sáng ô nhập, rồi bắt đầu gõ lệnh.
    Để đưa thanh Address lên thanh tác vụ (taskbar), bạn nhấn chuột phải lên chỗ trống trong thanh tác vụ rồi chọn Toolbars.Address. Nếu không có đủ chỗ trống cho ô nhập, bạn đặt con trỏ ở mép trái tên "Address" và kéo về bên trái để mở rộng diện tích (nếu không kéo đi được, hãy nhấn chuột phải vào thanh công cụ và bỏ chọn Lock the Taskbar). Sắp xếp lại thanh Address và các thanh công cụ cho đến khi thanh tác vụ trông hợp lý (hình 1).
    Để thay đổi kích thước và vị trí của  thanh Address, bạn kéo tên "Address" từ thanh tác vụ lên desktop. Cũng có thể kéo nó đến một cạnh bất kỳ của màn hình để cho trú ở đó - các cạnh trên cùng và dưới cùng của màn hình sẽ cho bạn nhiều chỗ nhất.


    Hình 2:Thanh Address luôn được nhìn thấy với tính năng ‘Always on Top’

    Bạn nhấn chuột phải lên thanh Address và chọn Always on Top để luôn nhìn thấy nó (hình 2). Nếu thanh Address được trú trong thanh tác vụ hoặc trên một cạnh màn hình, bạn có thể nhấn chuột phải lên nó và bỏ chọn Show Title để giấu nhãn Address. Trường hợp thanh Address được trú cùng chỗ nhưng tách rời thanh tác vụ, bạn nhấn chuột phải lên nó và chọn AutoHide để không hiển thị cho đến khi con trỏ di chuyển đến cạnh đó của màn hình.
    Muốn truy cập thanh Address của desktop từ bàn phím, bạn nhấn <Ctrl>-<Esc>, <Esc> (qui trình mở và đóng menu Start) để kích hoạt thanh tác vụ; sau đó nhấn <Tab> nhiều lần cho đến khi thanh Address kích hoạt. Nếu có một thanh công cụ bất kỳ nào đó trên thanh tác vụ hiện dấu ">>" chỉ thị một pop-up menu, thì có thể bạn cũng phải nhấn <Esc> ở một vài chỗ (để đóng các menu này) trong khi chuyển "tab" đến thanh Address. Khi thanh Address được kích hoạt, bạn có thể cuộn qua các lệnh hay địa chỉ đã nhập gần đây nhất bằng các phím <mũi tên lên> hay <mũi tên xuống>.


    Hình 3:Hộp Run hiện ra chỉ với một cú nhấn chuột khi bạn tạo biểu tượng Quick Launch cho nó

    Hộp Run: Một nơi còn dễ tìm đến hơn để nhập lệnh và địa chỉ Web là hộp Run của Windows. Bạn chọn Start.Run để nhìn thấy hộp này, hoặc đơn giản chỉ cần nhấn <Windows>-R nếu đang dùng bàn phím có phím <Windows>.
    Nếu muốn khởi chạy hộp Run từ biểu tượng Quick Launch hay một biểu tượng desktop nào đó, hoặc nếu đang dùng loại chuột có nút nhấn lập trình để khởi chạy ứng dụng, bạn có thể tạo ra một tập tin JavaScript đơn giản và dùng nó để mở hộp Run này. Bạn mở Notepad và gõ dòng: (new ActiveXObject("Shell.Application")).FileRun(). Chọn File.Save As, chuyển đến một folder thuận tiện, và gõ tên tập tin có đuôi .js - ví dụ run.js. Để tạo shortcut cho tập tin này trên desktop hoặc thanh công cụ Quick Launch, bạn dùng nút chuột phải kéo tập tin đó đến một trong các vị trí trên rồi chọn Create Shortcut(s) here. Nhấn hoặc nhấn đúp lên biểu tượng này (hoặc lên tập tin script gốc) để hiển thị hộp Run (hình 3).
    Nếu máy tính của bạn liên kết JavaScript với Notepad hoặc với một trình soạn thảo văn bản nào đó, nó sẽ không chạy script này. Để khắc phục, bạn tạo một shortcut cho tập tin .js như trình bày trên, nhấn chuột phải vào shortcut đó, và chọn Properties. Ở tab Shortcut, bạn nhấn vào chỗ bắt đầu của hộp văn bản Target. Gõ wscript.exe và một bước cách. Nhấn OK.
    Bàn phím: Cả thanh Address lẫn hộp Run đều cho phép mở mọi folder, tập tin, trình ứng dụng, địa chỉ Web (URL), shortcut, hoặc tập tin batch bằng cách gõ tên của nó vào. Nếu khoản mục này không nằm ở nơi mà Windows thường kiểm tra (như folder Windows chẳng hạn), có thể bạn phải gõ đường dẫn đầy đủ, ví dụ C:\Program Files\opera\opera.exe để khởi chạy trình duyệt Opera, hoặc \\network\docs\report.doc để mở tài liệu này trong Word. Nếu bạn quen đặt các dấu ngoặc kép bao quanh đường dẫn dùng tên dài hoặc có nhiều bước cách, với hộp Run thì không có vấn đề gì, nhưng thanh Address lại cho rằng bạn đang tìm một địa chỉ Web; vì vậy tránh dùng các dấu như vậy với công cụ này.


    Hình 4: Rút gọn lệnh chi còn 1 chữ bằng cách nhập đường dẫn thường dùng vào Registry

    Thanh Address cho phép mở các khoản mục trong Control Panel bằng cách nhập vào Control Panel\ tiếp theo là tên của khoản mục (ví dụ, Control Panel\Display), hoặc mở khoản mục trong các folder Printers hoặc Dial-Up Networking (chẳng hạn Printers\LaserJet). Các lệnh của hộp thoại Run không đơn giản như vậy (một ví dụ: controlmain.cpl keyboard).
    Gọi lệnh: Bạn có thể dùng thanh Address hoặc hộp Run để thực thi lệnh DOS "ngoài", như attrib, move, hoặc xcopy. Nói cách khác, bạn có thể gõ một lệnh bất kỳ tồn tại dưới dạng một tập tin ứng dụng trong folder Windows\Command (với Windows 9x và Me) hoặc folder Windows\System32 (với Windows 2000 và XP). Ví dụ, để sao chép tất cả các tập tin văn bản từ folder Documents sang folder có tên My Text Files, bạn gõ xcopy C:\documents\*.txt "C:\My text Files" và nhấn <Enter> (cần có dấu ngoặc kép nếu tên tập tin hay tên folder có bước cách). Windows sẽ chạy lệnh này thông qua một cửa sổ và cửa sổ sẽ đóng lại khi công việc hoàn thành (trường hợp cửa sổ không đóng, xem thủ thuật tiếp theo).
    File batch: Để chạy các lệnh DOS "nội" trong thanh Address hoặc trong hộp Run, bạn gõ command /c trước khi gõ lệnh đó (hoặc command /k để giữ cho cửa sổ lệnh vẫn mở sau khi lệnh được thực thi). Trong Windows 2000 và XP, bạn  có thể giảm bớt động tác gõ bằng cách dùng 'cmd' thay cho 'command'.
    Dưới đây là cách thực hiện nhanh một tập tin batch dùng để đặt tên lại cho các nhóm tập tin một cách tự động: Mở Notepad, gõ rename %1 %2, và nhấn <Enter>. Lưu tập tin này trong folder Windows dưới dạng rn.bat. Để chuyển tất cả các tập tin .txt trong một folder thành tài liệu Word (với đuôi .doc), bạn chỉ cần dùng thanh Address hoặc hộp Run và gõ dòng lệnh có dạng rn "c:\My documents\*.txt"  *.doc (dĩ nhiên đường dẫn của bạn có thể khác). Nếu cửa sổ lệnh dùng để chạy tập tin batch vẫn mở sau khi tập tin batch thực thi xong, bạn nhấn chuột vào biểu tượng ở đầu bên trái thanh tiêu đề của cửa sổ và chọn Properties. Bên dưới tab Program, đánh dấu chọn Close on exit và nhấn OK. Lần sau chạy tập tin batch đó, cửa sổ sẽ tự động đóng khi xong việc.
    Các lệnh trong tập tin batch đã được lưu với đuôi .cmd (thay vì .bat) trong Windows 2000 hoặc XP sẽ được diễn dịch như là địa chỉ Web, vì vậy nên đặt tên lại cho tập tin batch với đuôi .bat hoặc là chỉ chạy chúng thông qua hộp Run.
    Gửi e-mail: Muốn dùng thanh Address hay hộp Run để gửi cho ai đó một dòng tin, bạn chỉ cần gõ mailto: và tiếp theo là địa chỉ e-mail của người nhận (ví dụ, mailto: baiviet@pcworld.com.vn để gửi bài viết cho PC World Việt Nam) rồi nhấn <Enter>. Ứng dụng e-mail mặc định của bạn sẽ mở một thông điệp rỗng mới cùng với địa chỉ e-mail này trong vùng 'To:'
    Tìm kiếm: Để tìm kiếm văn bản trên Web bằng tính năng Auto-Search của IE, bạn nhấn chuột vào thanh Address; gõ find, search, go, hoặc chỉ dấu ? và tiếp theo là văn bản cần tìm; rồi nhấn <Enter>. Bạn có thể tùy biến cách hiển thị các kết quả tìm được bằng cách chọn Tools.Internet Options.Advanced. Cuộn đến tiêu đề 'Search from the Address bar'. Một số tùy chọn có thể không làm việc như mong muốn vì Microsoft ngẫu nhiên thay đổi site mà tính năng này kết nối đến. Cũng cần chú ý là bạn không thể tìm kiếm theo cách này bằng hộp Run.
    Để Windows hỗ trợ việc gõ: Khi bạn gõ một đường dẫn folder hoặc một URL trong thanh Address hay trong hộp Run, tính năng AutoComplete sẽ cung cấp folder hoặc địa chỉ Web đầu tiên phù hợp với các ký tự bạn gõ. Để mở lại các folder hoặc đến thăm lại các site, bạn chỉ cần gõ đủ các chữ để làm cho đường dẫn hoặc URL chính xác xuất hiện. Muốn bổ sung vào đường dẫn này, bạn ấn <mũi tên xuống> để chọn đường dẫn phù hợp nhất; gõ tiếp nếu bạn cần bổ sung thêm vào đường dẫn đó. Lặp lại nếu cần, cho đến khi bạn có toàn bộ đường dẫn yêu cầu; sau đó nhấn <Enter>.
    Rút gọn shortcut: Thay cho việc gõ các đường dẫn vào hộp Run hoặc thanh Address, bạn tạo shortcut trong các folder mà Windows sẽ tìm kiếm theo mặc định. Trong Windows 9x và Me, bạn thử dùng folder Windows\Command. Trong Windows 2000 và XP, bạn đưa các shortcut vào folder Windows\System (không phải Windows\System32) vì folder này không "đông đúc" lắm.
    Để tạo shortcut, bạn mở Explorer và chọn các ứng dụng, folder, và các tập tin nào hay dùng nhất. Nhấn chuột phải và kéo chúng đến một trong các folder Windows đã nói trên, thả nút chuột, và chọn Create Shortcut(s) Here (cũng có thể tạo shortcut dẫn đến các trang Web theo cách này). Đặt cho mỗi shortcut một cái tên ngắn để bạn có thể khởi chạy nó mà ít phải gõ; ví dụ đặt tên cho shortcut trình xử lý văn bản là wp (word processor) chẳng hạn. Không được dùng tên của các folder hiện có, vì làm như vậy có thể gây lẫn lộn cho thanh Address hay hộp Run.
    Khi dùng thủ thuật này với thanh Address, bạn thêm đuôi .lnk (đuôi ẩn cho các shortcut) tên shortcut không phải Web, chẳng hạn wp.lnk. Và trong cả hộp Run lẫn thanh Address, bạn thêm đuôi .url khi khởi chạy các shortcut Web - chẳng hạn pcw.url. Nếu lưu trữ tập tin batch ở một trong các folder này, bạn bỏ đuôi .bat khi nhập tên tập tin.
    Bỏ qua đường dẫn: Để giảm thật nhiều động tác gõ, bạn chọn Start.Run, gõ regedit, và nhấn <Enter>. Chọn folder trong khung bên trái: HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\App Paths. Nhấn chuột phải vào App Paths trong khung bên trái và chọn New.Key. Gõ tên viết tắt trong thanh Address với đuôi .exe tiếp sau - bất kể bạn dự định kích hoạt ứng dụng hay file. Ví dụ, nhập r.exe để mở tập tin báo cáo trong ứng dụng chế bản InDesign Document. Nhấn <Enter> để kết thúc việc đặt tên.
    Bạn chọn phím viết tắt mới của mình trong khung bên trái và nhấn đúp (Default) vào khung bên phải. Trong hộp 'Value data', bạn gõ đường dẫn và tên của chương trình, tập tin dữ liệu, hoặc shortcut mà bạn muốn khởi chạy (thêm đuôi .lnk cho tên đường dẫn shortcut, và đuôi .url cho shortcut Web). Ví dụ, gõ C:\My documents\Quarterly Report.indd (hình 4). Nhấn OK và thoát ra khỏi Registry Editor. Từ đây, khi nhập chữ viết tắt (trừ đuôi .exe) vào thanh Address hoặc hộp Run - ví dụ r ở trên - Windows sẽ mở tập tin đã được xác định.ÿ

    Minh Xuân
    PC World My 11/2003

     

    ID: A0311_128