• Thứ Sáu, 09/01/2004 09:51 (GMT+7)

    Trạm làm việc mơ ước...Hãy ráp, sẽ có!

    Workstation (trạm làm việc) thường được đánh đồng với PC có cấu hình tối thiểu, được nối mạng và thậm chí không có ổ đĩa cứng như terminal (thiết bị đầu cuối). Thực ra, theo truyền thống, trạm làm việc là một máy tính mạnh được dùng cho các ứng dụng đòi hỏi nhiều năng lực tính toán và đồ hoạ. Còn trạm làm việc chuyên dụng (professional workstation) là các máy tính cực mạnh, tốc độ xử lý nhanh và dung lượng bộ nhớ lớn, được tối ưu hóa cho các ứng dụng chuyên nghiệp như thiết kế, dựng hình kỹ thuật số, vẽ kiến trúc, mô phỏng động cơ, tính toán khí động học...; những công việc nặng nhọc mà PC thông thường phải mất rất nhiều thời gian hoặc thậm chí không thể làm được.

    Trước đây chỉ có workstation của Sun, Next hay SGI, thường rất đắt tiền và không có nhiều tùy chọn. Gần đây, họ x-86 của Intel, AMD đã đạt được tốc độ tương đối cao, giá thành rẻ, tương thích rộng và trở nên phổ biến, khách hàng có thêm nhiều sự lựa chọn mới. Bài viết này chỉ đề cập đến các workstation kiến trúc x-86, sử dụng BXL Intel hoặc AMD.

     

    Tiêu Chí Lựa Chọn

    Để đạt hiệu suất cao, trạm làm việc phải tối ưu cho từng ứng dụng riêng biệt và phải tương thích với nhiều thiết bị khác nên việc lựa chọn trạm làm việc khó khăn hơn nhiều so với lựa chọn máy chủ. Bài viết (có tham khảo tài liệu “Workstation Design” của Microsoft) hy vọng sẽ giúp bạn tìm được một trạm làm việc “đáng đồng tiền bát gạo”.

     Không giống như mua PC để chơi game, soạn thảo văn bản Word hay bảng tính Excel, trước khi mua workstation, bạn phải xác định được yêu cầu và phần mềm ứng dụng cần sử dụng. Dùng phần mềm thiết kế CAD thông thường như AutoCad, Solidworks, MDT... thì bạn đừng dại tìm mua workstation được thiết kế để chạy những phần mềm CAD/CAM/CAE (Pro/E, UGS, Solid Designer) hoặc phần mềm dành riêng cho công ty chế tạo máy bay, vũ khí kiểu như CV (Boeing), SDRC I-Deas MS (NASA), CATIA (Dassault)... Hơn nữa, workstation loại này cũng không phù hợp để bạn tiến hành dựng hình số (phim DCC-digital content creation) hay làm phim hoạt hình. Bạn cũng cần xác định được thời gian thu hồi vốn và khả năng tái đầu tư. Ứng dụng có thể được chia theo 4 cấp độ như bảng 1. Giờ thì chúng ta hãy xem xét kỹ đến từng thành phần của workstation.

     

    Bộ Xử Lý (Bxl)

    Khi đã quyết định sử dụng hệ thống kiến trúc x-86, bạn có thể chọn Athlon XP, Athlon MP, Opteron của AMD hoặc Pentium III-S, Pentium 4, Xeon, Xeon MP và Itanium 2 của Intel; mỗi loại đều có thế mạnh riêng. Yêu cầu tối thiểu phải có tốc độ trên 1GHz, bộ nhớ đệm cache L2 trên 256KB (512KB, 1.024KB thì hiệu quả sẽ tăng lên rất nhiều). Các workstation mạnh thường có hai BXL trở lên (càng nhiều càng tốt),  hoạt động ở chế độ đồng bộ (processors symmetrically), phù hợp với đặc tả ACPI 1.0 (Advanced Configuration and Power Interface) và MPS 1.4 (Multi Processor Specification).

    Hiện nay, BXL Intel và AMD đời mới nhất cho phép mô phỏng thành 2 BXL trên một BXL vật lý nhằm tăng tốc độ cho workstation. Intel sử dụng công nghệ Hyper-Threading để mô phỏng thành 2 BXL luận lý, cùng chia sẻ tài nguyên của BXL vật lý; còn AMD thì (dường như) đặt luôn cả 2 BXL vào trong 1 BXL duy nhất. Làm sao biết hệ thống của mình cần nhiều bộ xử lý? Chạy một ứng dụng phức tạp, nếu bạn thấy BXL hoạt động ở mức tối đa (100%), con trỏ chuột bất động, không chịu di chuyển theo điều khiển thì bạn nên nghĩ đến việc nâng cấp lên hệ thống 2 BXL và thiết lập MPS 1.4.

    Chọn một BXL Pentium 4 (hỗ trợ đơn xử lý - uni-processing) hay 2 BXL Pentium III-S (hỗ trợ xử lý kép - dual-processing)? Câu trả lời sẽ tùy thuộc vào phần mềm ứng dụng và hệ điều hành đang dùng, nếu hệ điều hành và phần mềm ứng dụng của bạn chỉ hỗ trợ uni-processing thì chẳng nên mua 2 BXL làm gì.

    Bạn có thể tham khảo giới thiệu BXL trong bảng 2. Như vậy, bạn chỉ cần mua workstation trang bị P4 hoặc Athlon XP để chạy ứng dụng  CAD 2D/3D đơn giản (như AutoCad), thiết kế hình ảnh web động. Nếu bắt đầu sử dụng phần mềm thiết kế 3D phức tạp (3D Studio Max, Micro-Station, Solidworks, Solidegde) hay phần mềm dựng phim số, làm game 3D, phim hoạt hình... thì workstation của bạn cần ít nhất là 2 BXL. Những ứng dụng này vốn rất nặng nề và được viết cho các hệ thống nhiều BXL nên khi chạy trên hệ thống một BXL, chúng không phát huy hết hiệu năng và thường chạy rất ì ạch (đôi khi cần đến vài giờ để thực hiện một tác vụ phức tạp). Hệ thống 2 BXL cũng không quá đắt tiền như 4 hay 8 BXL. Nếu tài chính cho phép, bạn nên mua hệ thống 2 BXL và mua luôn cả hai BXL (kẻo sau này khó tìm được BXL giống hệt bộ đang có). Giá hệ thống Xeon hay Athlon MP không đắt hơn bao nhiêu so với giá hệ thống Pentium III-S, nhưng tốc độ thì cao hơn rất nhiều, tương thích với các công nghệ mới (bộ nhớ RAMBUS, DDR); hơn nữa Pentium III-S cũng chỉ còn được sản xuất trong thời gian ngắn nữa. Các hệ thống từ 4 BXL trở lên rất đắt tiền (tối thiểu là 10.000 USD) và thường chỉ được một số nhà sản xuất hàng đầu chế tạo theo yêu cầu riêng.

     

    Chipset

    Nếu như BXL là bộ não của máy tính thì chipset là trái tim. Chipset cho PC chỉ hỗ trợ một BXL, chipset trong workstation thường rất mạnh: hỗ trợ nhiều BXL; công nghệ hyper-threading của Intel hay hyper-transport của AMD; bộ nhớ RAMBUS, DDR; giúp giải quyết vấn đề “thắt cổ chai”, “nghẽn mạch” trong các ứng dụng phức tạp, đòi hỏi năng lực tính toán cao và băng thông dữ liệu lớn.Khi lựa chọn chipset bạn có thể tham khảo bảng 3.

    Một số chipset (ví dụ E7500) dành cho BXL Xeon không hỗ trợ chuẩn AGP, mà tìm mua card màn hình khác chuẩn AGP thì rất khó khăn. Vì vậy bạn cần tìm đúng loại chipset có hỗ trợ AGP 4X (tối thiểu), AGP Pro 4X càng tốt.

    Hiện nay chipset i860 đang được ưa chuộng nhất vì hiệu quả cao, hỗ trợ RAMBUS có ECC, hỗ trợ BXL Xeon với công nghệ hyper-threading, và AGP Pro 4X. Tuy nhiên các bo mạch chủ (BMC) sử dụng chipset i860 sử dụng nhiều linh kiện và có thiết kế phức tạp hơn, ít hãng sản xuất được và khá kén chọn linh kiện.

     

    Bo Mạch Chủ

    Mặc dù có rất nhiều nhà sản xuất BMC lớn nhưng chỉ có một số ít là sản xuất BMC dành cho workstation. Một phần là do không đủ khả năng, phần nữa là do số lượng và doanh số BMC dùng cho workstation nhỏ so với BMC thông dụng, đang sản xuất đại trà. Các loại BMC dùng cho workstation thường có giá bán cao do chi phí đầu tư nghiên cứu lớn. Khi lựa chọn BMC cho workstation, đừng vội lựa chọn theo kiểu “hàng hiệu” mà hãy tìm hiểu kỹ tài liệu kỹ thuật và website có liên quan để tìm BMC thích hợp nhất với các thiết bị khác mà bạn định mua. Đôi khi nhãn hiệu có vẻ như xa lạ với bạn nhưng lại là một “siêu sao” về BMC cho workstation. Đừng ngại hỏi han thông tin mà bạn quan tâm với người quen, nhà cung cấp hay sục sạo các website liên quan.

    Giá của BMC dùng cho workstation có khi chênh lệch nhau một vài trăm USD, nhưng khoản tiền đầu tư này sẽ hợp lý nếu BMC chắc chắn chạy tốt với các thiết bị khác. Thử hỏi nhà cung cấp về khả năng trả lại BMC nếu gặp phải trường hợp không tương thích. Có thể giá sẽ rẻ hơn, nhưng bạn không nên mua trên internet nếu không chắc về khả năng tương thích của sản phẩm; vì khả năng trả lại hàng là rất khó. Nếu gặp nhà cung cấp am hiểu về lĩnh vực bạn đang quan tâm thì sẽ rất tốt, họ có thể tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật thêm cho bạn.

    Bạn nên quan tâm đến thiết kế của BMC. Một BMC được thiết kế tốt thường phải bố trí và đánh số khe cắm mở rộng hợp lý: khe PCI-32 và PCI-64 không được để xen kẽ nhau. Chân cắm cáp ổ đĩa cứng/mềm, nguồn chính và nguồn phụ phải nằm sát rìa BMC để cho khoảng cách dây dẫn là ngắn nhất, dây không bị bắt chéo hay chồng lên thiết bị khác; dễ gây sự cố và cản trở quá trình làm mát hệ thống. BMC dùng cho workstation không nên có tính năng “màu mè” vì nó sẽ làm giảm sức mạnh của chức năng chính. Nên chọn loại sử dụng RAM chuẩn, loại BMC yêu cầu RAM “đặc biệt” (cần thêm tụ điện hay chip đệm) thường là do bị lỗi về thiết kế không thể chạy ổn định được, thiết kế tốt nhất là khe cắm RAM nằm ngay trên bo mạch chính, gần sát với BXL để cho tốc độ truyền dữ liệu được nhanh nhất. Bạn cũng nên chọn loại BMC hỗ trợ các loại RAM tốc độ cao như RAMBUS hoặc DDR 2-way interleaved, 4-way interleaved ứng với số BXL.

    Nên chọn loại BMC có kiến trúc bus I/O 64bit, vì các loại card mở rộng tốc độ cao hiện nay đa số dùng chuẩn PCI-64bit, và không cần đến bất cứ khe ISA mở rộng nào do thiết bị chuẩn ISA có tốc độ rất thấp, sẽ làm nghẽn mạch toàn hệ thống.

     

    Bộ Nhớ Ram

    Nên chọn nhãn hiệu RAM nổi tiếng, có tốc độ càng cao càng tốt, và không nên dùng lẫn lộn nhiều loại RAM. Bạn nên lưu ý là mỗi loại BMC chỉ hỗ trợ tốt nhất vài loại RAM và thường được liệt kê trong “danh mục bộ nhớ khuyên dùng” (memory recommendation list) tương ứng.

    Bạn phải “tậu” ít nhất là 512MB RAM, và phải có khả năng mở rộng lên 1-2GB vì khi bạn bắt đầu làm việc thực sự thì 512MB RAM vẫn là con số khiêm tốn. Chọn loại RAM có ECC được hỗ trợ bởi phần cứng là tốt nhất vì loại này có khả năng tự sửa sai, tránh được treo máy. Nếu các thanh RAM không được gắn trực tiếp lên BMC mà phải gắn qua phần mở rộng (memory extention) thì bạn phải kiểm tra khe cắm vào BMC của phần mở rộng này, nó phải luôn chắc chắn. Nếu BMC của bạn yêu cầu loại RAM “đặc biệt”, bạn phải ghi nhớ nơi bán để tiện nâng cấp về sau.

     

    Card Màn Hình

    Nếu chu kỳ nâng cấp của máy tính chỉ là 3 năm thì card màn hình loại cao cấp dùng cho workstation có chu kỳ thay thế tới 6 năm, vì vậy rất xứng đáng để đầu tư. Cho dù bạn định mua workstation để  dựng phim số (DCC) hay thiết kế AutoCad thì yếu tố card màn hình cũng cực kỳ quan trọng. Không nên dùng loại card màn hình rẻ tiền, vốn chỉ được thiết kế cho chơi game, vì đoạn phim mà bạn làm ra sẽ chỉ đạt chất lượng tham khảo, khó có thể được coi là thương phẩm chính hiệu. Đấy là lý do tại sao nhiều công ty quảng cáo/thiết kế lớn không muốn tiết lộ hệ thống họ đang sử dụng, và không tiếc tiền đầu tư vào card màn hình cao cấp nhất.

    Nếu thật sự muốn làm ra những sản phẩm hoàn hảo, bạn phải đặc biệt coi trọng việc lựa chọn card màn hình. Tùy theo công việc mà bạn sẽ cần chọn loại card có khả năng dựng trực tuyến cao, thậm chí tới mức thời gian thực hay không? Dựng trực tuyến thời gian thực (realtime online rendering) là khả năng hiển thị tức thời hình ảnh 3D khi bạn kéo/xoay, còn khi dựng một đoạn phim thì đó lại là dựng ngoại tuyến (offline rendering) - công việc chủ yếu do BXL đảm nhiệm.

    Ví dụ, dựng phim hoạt hình 3D số hay làm kỹ xảo 3D (3D Studio Max, Maya), thiết kế chi tiết máy móc cực kỳ phức tạp (Pro/Engineer, Solid Designer), bạn cần loại card màn hình có khả năng dựng hình trực tuyến (nếu không, hình ảnh sẽ bị giật hoặc hiển thị thiếu) và có khả năng lập trình các chức năng tiên tiến như vertex shader hay pixel shader. Với những bản thiết kế AutoCad không quá phức tạp, bạn chỉ cần quan tâm đến khả năng hiển thị sắc nét, đúng màu sắc và chức năng chống răng cưa toàn màn hình (nếu không khi phóng lớn, nét vẽ thẳng nhỏ bằng sợi tóc sẽ to bằng cái đũa và có lởm chởm răng cưa). Khi dựng phim số, bạn chỉ cần loại card màn hình có khả năng hiển thị đúng màu sắc, tương thích tốt với card xử lý video đang đảm nhiệm chức năng biên tập video. Loại card màn hình hỗ trợ hiển thị trên nhiều màn hình sẽ cho phép bạn tách riêng màn hình biên tập với màn hình xem trước.

     

    Chủ yếu loại card màn hình dùng cho workstation hiện này đều do 4 nhà sản xuất cung cấp: Nvidia với các sản phẩm dòng Quadro (hiện do ELSA và PNY phân phối), 3Dlabs với các dòng sản phẩm Oxygen và Wildcat, ATI với dòng sản phẩm FireGL và Matrox. Trong đó nVidia và 3Dlabs chiếm phần lớn thị phần card cao cấp, các chip do ATI chế tạo khá mạnh nhưng trình điều khiển còn nhiều hạn chế. Card cho workstation dùng cùng loại GPU với các card cho game, nhưng có giá đắt hơn 2-5 lần vì chúng có một vài khác biệt: thiết kế, linh kiện cao cấp hơn; và trình điều khiển khác hoàn toàn. Trình điều khiển của card dùng cho workstation được viết kỹ lưỡng hơn rất nhiều, được chạy thử và tối ưu hóa trên nhiều nền tảng phần cứng khác nhau, tối ưu hóa với chức năng đồ hoạ chuyên dùng như OpenGL (version 1.1, 1.2, 1.3). Chương trình kiểm tra tốc độ dành cho game 3D, chủ yếu khai thác hàm chức năng DirectX, như 3DMark sẽ không thể đưa ra kết quả chính xác cho loại card này. Để biết được “nội lực” thực sự của những loại card này, bạn cần có chương trình kiểm tra sử dụng các hàm chức năng OpenGL (thường được 3D Studio Max, Pro/E, Solid sử dụng) như Viewperf.

    Hầu hết các loại card màn hình chuyên dùng cho workstation đều được bán kèm với phần mềm tối ưu hóa cho ứng dụng riêng biệt (Maxtreme tối ưu hóa cho 3DS Max, PowerDraft tối ưu hóa cho AutoCad), các phần mềm này thật sự rất hữu ích và bạn chớ quên cài đặt chúng.

     

    Ổ Đĩa Cứng, Bộ Điều Khiển Đĩa Cứng, Raid

    Cho dù tốc độ và chất lượng của các ổ cứng chuẩn IDE đã được cải thiện đáng kể nhưng cho đến thời điểm này, vai trò của ổ đĩa cứng SCSI trong workstation vẫn là không thể thay thế được. Chỉ ổ cứng SCSI mới có đủ tốc độ, khả năng hoạt động ổn định và bền bỉ để đáp ứng nhu cầu lưu trữ và truyền tải dữ liệu cho các workstation chuyên dụng. Ngoài ra, chúng còn rất linh hoạt trong việc bổ sung thêm ổ cứng (mỗi kênh Ultra SCSI có thể hỗ trợ tới 15 ổ cứng trong khi mỗi kênh IDE chỉ hỗ trợ 2 ổ cứng), cho phép cùng đọc/ghi dữ liệu trên nhiều ổ khác nhau để tăng tốc độ (RAID 0) hay chứa dữ liệu trên nhiều ổ khác nhau để bảo vệ dữ liệu (RAID 1/5) (xem bài Redundant Array of Independent Disks - RAID, PCW-A 09/2001, tr.78).

     

    Khi bạn dự định dùng ổ cứng SCSI, trước hết hãy lựa chọn bộ điều khiển SCSI, chuẩn thông dụng nhất hiện nay là Ultra160 SCSI (còn gọi là SCSI-3, có thể truyền dữ liệu tới 160MB/s), hầu hết các ổ đĩa cứng SCSI đời mới đều hỗ trợ chuẩn Ultra160, các ổ này có tốc độ từ 7.200 vòng/phút (ppm), 10.000ppm hay 15.000ppm, tốc độ càng cao thì thời gian tìm kiếm, đọc/ghi dữ liệu càng nhanh, và tất nhiên là càng đắt tiền! Ổ cứng dùng cho workstation nói chung không cần có chức năng hotswap (tráo đổi nóng), vì vậy không cần mua loại ổ này nhằm tiết kiệm vốn đầu tư. Nên mua ít nhất là 2 ổ cứng, còn nếu dự định mua workstation để biên tập video, dựng phim DCC thì nên mua ít nhất là 4 ổ cứng có tốc độ 15.000ppm, mua thêm card RAID “xịn” rồi thiết lập chế độ RAID 0 để tăng tối đa tốc độ truy xuất. Vì ứng dụng làm phim thường xuyên đọc/ghi những đoạn video dài (một phút video chất lượng cao có thể chiếm đến 25GB).

     

    Bạn không nên chọn loại BMC tích hợp sẵn, mà hãy chọn loại card SCSI gắn rời vì nhiều phần mềm chỉ được tối ưu cho một số card SCSI nhất định, mà rất có thể loại card SCSI được tích hợp sẵn lại không nằm trong danh sách được tối ưu. Hai loại card SCSI đang thịnh hành nhất hiện nay đều do Adaptec sản xuất, model 39160 dùng tốt cho các ứng dụng cần đọc/ghi lượng dữ liệu lớn như dữ liệu video, model 29160 (rẻ hơn) dùng cho các ứng dụng không đòi hỏi tốc độ cao. Hiện nay đã bắt đầu xuất hiện loại card điều khiển và ổ cứng SCSI loại Ultra320 (SCSI-4), nhưng giá thành còn tương đối cao và vẫn chưa hoàn hảo lắm; vì vậy SCSI-3 vẫn là lựa chọn khôn ngoan. Và nếu bạn là người “cầu toàn”, bạn hãy chọn loại card RAID “xịn” của Adaptec, Mylex hay LSI với bộ nhớ đệm cache từ 32MB-128MB, nếu không thì loại cache 16MB cũng “dùng được”.

     

    Màn Hình

    Một workstation “xịn” thường phải hỗ trợ 2 màn hình trở lên, nếu card màn hình của bạn hỗ trợ giao tiếp số DVI (Digital Video Interface) thì bạn nên sắm màn hình hỗ trợ chuẩn này. Chuẩn DVI giảm tối đa tín hiệu nhiễu nên chất lượng hiển thị tốt hơn. Nếu bạn thích sử dụng loại màn hình LCD thì hãy chọn loại màn hình từ 17' trở lên với góc nhìn không thấp hơn 160 độ, độ tương phản 400:1 trở lên, độ trễ hiển thị không quá 15ms và có số điểm “chết” ít hơn 7. Với màn hình CRT thì nên chọn loại từ 19' trở lên, kích thước điểm không lớn hơn 0,24mm và phẳng tuyệt đối. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại màn hình phẳng với rất nhiều lời quảng cáo ấn tượng. Trừ khi bạn là triệu phú và có khả năng đặt mua loại màn hình hiển thị 3 chiều (giá tới 20.000 USD), theo kinh nghiệm “dân chơi” monitor, bạn nên chọn Sony Trinitron hoặc Mitsubishi Diamondtron Flat (loại chuyên dùng). Tiêu chuẩn qui định đối với màn hình có đến vài chục, bạn chỉ cần quan tâm đến tiêu chuẩn TCO: TCO càng bé thì tính chuyên nghiệp càng cao (TCO’92 chuyên nghiệp hơn TCO’95).

     

    Thùng Máy (Case-Chassis)

    Thùng máy cũng là một trong những thành phần đóng vai trò quan trọng, thùng máy workstation loại “nghiêm chỉnh” thường có giá tối thiểu là 200 USD, loại “xịn” thường có giá tới 300-400 USD (giá về đến VN cần cộng thêm khoảng 100 USD tiền thuế và phí vận chuyển). Trong đó phần nguồn chiếm hơn một nửa giá trị, phần còn lại dành cho quạt (kích thước khá lớn) và phần thân bằng thép cứng nặng tới hơn 20kg. Nguồn workstation không yêu cầu phải là loại tháo nóng được (hotswap redundant) như máy chủ, nhưng nhất thiết cần có hệ thống làm mát kép (redundant cooling system), và có chức năng cảnh báo càng tốt. Nguồn phải có công suất từ 400W trở lên thì mới đủ điện cho 2 BXL và dàn đĩa cứng SCSI. Nên chọn loại thùng máy chuẩn extended-ATX, tối thiểu phải có 5 khoang chứa loại 3.5' và 3 khoang chứa loại 5.25'. Cuối cùng là  bật máy lên và tiến hành kiểm tra nhiệt độ, nếu nhiệt độ của BXL và hệ thống chỉ từ 37-39oC thì thật tuyệt vời, nhưng nếu vượt quá 43oC thì nên thay thùng máy mới. Một thùng máy tồi có thể đổ công sức chọn lựa linh kiện của bạn xuống sông xuống biển, không chừng còn “thiêu rụi” tất cả.

     

    Hệ Điều Hành

    Bạn phải chắc rằng phần mềm ứng dụng tương thích với phần cứng và hệ điều hành. Đối với người dùng Windows thì Windows NT 4.0/ 2000 là sự lựa chọn tối ưu, Windows XP thì vẫn chưa được nhiều phần cứng và phần mềm hỗ trợ; nên quên Windows 9x đi vì nó không hỗ trợ nhiều BXL và không sử dụng được quá 512MB RAM. Nếu phần mềm của bạn có thể chạy trên UNIX thì hãy chọn hệ điều hành Linux, bạn sẽ thấy rằng nó rất tuyệt.

     

    Các Thiết Bị Khác

    - Bàn phím và con chuột: thao tác làm việc lâu trên máy tính, hãy chọn loại bàn phím và chuột loại tốt của Microsoft hay Logitech. Nếu là loại không dây (wireless) thì càng quý vì bạn dễ dàng đặt chúng ở chỗ nào thuận tiện nhất mà không phải lo đến mớ dây nhợ lằng nhằng.

    Sound card: loại tốt nhất hiện nay có lẽ là Sound Blaster Audigy Platinum.

    - Card FireWire: USB 1.1 quá chậm, còn USB 2.0 thì chưa có mấy thiết bị dùng được, trong khi chuẩn FireWire có tốc độ truyền lên tới 400Mbps đã có từ lâu và được rất nhiều thiết bị hỗ trợ, vì vậy nếu điều kiện cho phép, hãy trang bị ngay một card Adaptec FireConnect 4300 – 3 channel 400Mbps.

     - CD/CDRW/DVD: Giá của chúng hiện nay đã quá rẻ rồi, hãy cân nhắc mua một ổ combo CD-RW+DVD hay mua rời từng loại, bằng không hãy mua một ổ DVD-R/RW.

    - Solid state storage: card chuẩn PCI có khả năng chứa đến 8GB RAM (8 thanh loại 1GB), thực chất được dùng như là một loại ổ cứng “siêu tốc độ” (và “siêu đắt tiền”), dùng làm bộ đệm (cache) cho một vài tác vụ cần truyền dữ liệu với tốc độ mà ổ cứng không đáp ứng được (gần như là tức thời). Đối với đa số người dùng thì thiết bị này không cần thiết lắm.

    Tổng hợp tất cả các thiết bị cần mua sắm thật không rẻ chút nào, thường thì để có được một máy tính thuộc loại “giấc mơ”, bạn phải bỏ ra số tiền gấp 2-5 lần so với một PC thuộc loại mạnh (nhưng vẫn còn rẻ hơn nếu mua nguyên máy workstation của Compaq/ HP/ IBM/ Dell). Đối với những người đã từng hì hục đánh vật với các bản vẽ phức tạp, thiết kế 3D hay làm phim quảng cáo, số tiền này hoàn toàn có thể chấp nhận được nếu workstation giúp họ tiết kiệm thời gian và công sức để làm ra những sản phẩm có giá trị thương mại. Theo tôi, với workstation mạnh, rất nhiều người Việt Nam có thể làm được những công việc đang bị các công ty nước ngoài chiếm lĩnh: phim quảng cáo chất lượng cao, phim hoạt hình dựng hoàn toàn bằng kỹ thuật số. Biết đâu chúng ta sẽ cho ra đời một bộ phim hoành tráng như Final Fantasy trong nay mai?

     

    Nguyễn Liên Phương
    phuongln@hn.vnn.vn

    ID: A0208_84