• Thứ Năm, 08/01/2004 17:06 (GMT+7)

    Tạo đĩa mềm khởi động cho Windows 2000 và XP

    Windows 2000 và XP không có tính năng đĩa khởi động như các phiên bản Windows trước. Làm cách nào để tạo đĩa mềm khởi động cho Windows 2000/XP?

    Windows 9x và Me cho phép bạn tạo đĩa mềm dùng để khởi động hệ thống. Đĩa khởi động sẽ khởi chạy PC trong MS DOS đồng thời chứa nhiều công cụ chẩn đoán và sửa chữa hỏng hóc khác.

    Windows 2000 và XP khởi động PC trong tình trạng khẩn cấp theo cách không giống như 9x và Me. Thậm chí có cả một số giải pháp không dùng đĩa mềm. Ví dụ, nếu Windows 2000 hoặc XP bị treo trong khi đang nạp vào, thì chỉ cần khởi động lại máy  và nhấn <F8> khi PC bắt đầu nạp hệ điều hành để hiển thị trình đơn các tùy chọn khởi động (có thể phải nhấn <F8> hai lần để có menu đầy đủ). Tùy chọn tốt nhất để phục hồi PC có lẽ là Last Known Good Configuration. Nếu chọn lựa này không hoạt động, bạn thử chọn Safe Mode. Luôn nhớ chuột của bạn không làm việc trên trình đơn này; bạn phải dùng các phím di chuyển của bàn phím.

    Những phương pháp phục hồi không đĩa mềm này phải dựa vào Windows. Nếu ngay cả Windows cũng không khởi động, bạn sẽ phải dùng đĩa khởi động. Sau đây là cách tạo đĩa đó:
    Bắt đầu với đĩa mềm trống đã được format. Nếu muốn format một đĩa mềm, chỉ cần đưa đĩa vào ổ,  nhấn đúp My Computer, nhấn chuột phải vào biểu tượng ổ đĩa mềm, chọn Format, rồi nhấn Start.
    Tiếp theo, bạn mở ổ đĩa C của mình trong Windows Explorer. Nếu Explorer hiện ra cảnh báo, bạn nhấn Show the contents of this folder. Để hiển thị những tập tin cụ thể cần thiết, bạn chọn Tools. Folder options, sau đó nhấn nhãn View. Xem lại để bảo đảm Show hidden files and folders đã được chọn, và bỏ chọn đối với Hide protected operating system files (Recommended). Tại cảnh báo này, bạn nhấn Yes, rồi OK.
    Bạn chép các tập tin boot.ini, ntdetect.com, và ntldr vào đĩa mềm. Rút đĩa ra, gạt thanh chống ghi (write –protect), và ghi nhãn “Đĩa khởi động”. Quay lại với hộp thoại Folder Options và chọn lại Hide protected operating system files and folders (Recommended).
    Đưa đĩa này vào ổ và khởi động lại hệ thống, PC của bạn sẽ bỏ qua các tập tin khởi động cơ sở trên ổ cứng, nhưng sẽ nạp Windows vào một cách bình thường (nhớ thiết lập CMOS để cho phép khởi động từ đĩa mềm).

    Bổ sung menu “send to”
    Có cách nào để bổ sung thêm các chương trình vào danh sách Send To hiển thị khi nhấn phím phải vào một tập tin?
    Menu Send To cũng chỉ là một folder. Khi tạo một shorcut mới, nó sẽ nằm trong folder này. Bạn cũng có thể kéo một tập tin hay một folder vào folder Send To rồi chọn Create Shortcut(s) Here để tạo shortcut cho khoản mục đó trên trình đơn (hình 1).
    Vậy thì folder Sent To nằm ở đâu? Trong Windows 9x và Me, đường dẫn của folder này là C:\Windows\Send To. Trong Windows 2000 và  XP, đường dẫn là C:\Documents and Settings\username \Send To, trong đó username là tên đăng nhập của bạn.
    Trong Windows 2000, Me, và XP, Send To là một folder ẩn. Để xem các folder ẩn, bạn mở Windows  Explorer, chọn Tools.Folder Options, nhấn nhãn View, chọn Show hidden files and folders, và nhấn OK.


    hình 2. để chuyển outlook sang một pc mới, bạn phải xuất (export) và nhập (import) các tập tin

    Đóng Tất Cả Chương Trình Bằng Một Cú Nhấn
    Làm cách nào để có thể dễ dàng đóng tất cả các chương trình Windows trước khi cài đặt một ứng dụng mới hoặc cho chạy ScanDisk?
    Một số chuyên gia cho rằng chỉ phải đóng những ứng dụng chạy trong cửa sổ riêng của chúng và chiếm chỗ trên thanh tác vụ (taskbar). Những người khác lại khuyên nên đóng mọi thứ trừ những ứng dụng cốt lõi của Windows, bao gồm phần mềm chống virus, các firewall, và các chương trình chạy nền.
    Cách dễ nhất để đóng tất cả các chương trình là dùng phần mềm miễn phí Kill Win của BK_Soft hay người anh em của nó, phần mềm Kill Win Pro giá 15 USD (cả hai đều có ở địa chỉ: find.pcworld .com/12286).
    Để tạo shortcut đóng các ứng dụng, bạn nhấn phím phải lên biểu tượng Kill Win trong menu Start và chọn Copy. Sau đó nhấn phím phải vào desktop và chọn Paste. Nhấ tiếp phím phải lên biểu tượng mới trên desktop và chọn Properties. Chọn nhãn Shortcut; trong khung Target, bổ sung thêm một khoảng trống và tiếp đó là /w, bạn sẽ có dòng lệnh “C:\KillWin\KillWin.exe /w”. Nhấn OK, sau đó nhấn phím phải vào biểu tượng để đặt tên lại cho tập tin Close applications. Nếu muốn, bạn có thể kéo biểu tượng đó trở lại menu Start.
    Kill Win có một tùy chọn để đóng tất cả mọi thứ gồm cả các chương trình nền, nhưng không tốt lắm. Nó nạp lại Windows và bỏ qua các chương trình tự khởi chạy; nó hoàn toàn không hoạt động trong XP. Nếu muốn dùng nó, bạn làm theo các hướng dẫn vừa trình bày trên, nhưng thay vì thêm đuôi /w, bạn thêm /p. Đặt tên cho shortcut đó là Close everything.

    Lưu Giữ Hộp Thư OE
    Outlook Express lưu giữ từng folder e-mail dưới dạng tập tin .dbx. Nếu sao lưu một trong các tập tin này vào đĩa mềm, rồi xóa folder đó đi, làm cách nào để phục hồi lại?
    Outlook Express lưu trữ lại các e-mail dưới dạng tập tin .dbx trong một vị trí gọi là Store Folder. Muốn tìm Store Folder, bạn mở OE, chọn Tools.Options, nhấn nhãn Maintenance, rồi nhấn nút Store Folder (ở đây, một “folder” Outlook Express là một tập tin Windows nằm trong “folder” Windows).
    Để cất giữ một folder Outlook Express, bạn vào Store Folder và chuyển tập tin .dbx sang đĩa mềm, CD-R, hoặc một phương tiện lưu trữ nào đó. Sau đó bạn xóa folder này trong Outlook Express nếu không cần đến nó nữa.
    Để phục hồi folder e-mail đã xóa, bạn mở Outlook Express và chọn File.New.Folder. Gán cho folder mới này một tên giống như tên bạn đang phục hồi (đó là tên của tập tin được cất giữ, bỏ đi đuôi .dbx), và nhấn <Enter>. Nhấn lên folder mới đang rỗng này, và đóng Outlook Express. Bây giờ bạn chép tập tin .dbx đã được cất giữ vào Store Folder. Nếu đã đặt tên chính xác cho folder mới, Windows sẽ hỏi bạn có chắc chắn muốn thay thế tập tin này hay không, bạn nhấn Yes.
    Lần sau bạn vào lại Outlook Express, tập tin e-mail vừa phục hồi sẽ ở đó.

    Chuyển Outlook Sang Máy Tính Mới
    Trong PC World VN số 1/200 (những câu hỏi nhỏ, trang 80) có chỉ cách chuyển các thiết lập Outlook Express sang PC mới, nhưng đối với các thiết lập của Microsoft Outlook thì thế nào?
    Chuyển Outlook dễ dàng hơn so với chuyển Outlook Express. Bạn chỉ phải xuất các tài khoản, quy tắc (rule) và folder. Các tài khoản định danh bạn trên internet, còn các quy tắc thì xác định cách bạn thanh lọc e-mail như thế nào, cùng với các chức năng quan trọng khác. Các dữ liệu quan trọng – như sổ tay địa chỉ, các thông điệp e-mail được lưu lại, và mọi cuộc hẹn theo lịch chẳng hạn – đều nằm trong các folder.
    Để chuyển các tài khoản, bạn mở Outlook trên PC cũ, chọn Tools.Accounts, chọn tài khoản thư tín của bạn, rồi nhấn Export. Cất tập tin này vào folder dùng chung hay vào một phương tiện lưu trữ tháo lắp, và sau đó nhấn Close.
    Để xuất các quy tắc, bạn chọn Tools.Rules Wizard, nhấn nút Options, rồi nhấn Export Rules. Một lần nữa, bạn cất tập tin này vào một folder dùng chung hoặc một đĩa tháo lắp.
    Để xuất các folder, chọn File.Import and Export trên máy cũ, và trên trang đầu tiên của Import and Export Wizard, chọn Export to a file (hình 2). Trên trang tiếp theo, bạn chọn Personal Folder File (.pst). Trên trang thứ ba, chọn Personal Folders, đánh dấu chọn Include subfolders, và nhấn Next. Cũng cất tập tin này vào folder dùng chung hoặc đĩa tháo lắp. Khi chuyển ba tập tin này vào máy tính mới, bạn lặp lại các bước trên trong Outlook của máy đó, nhưng chọn để nhập (Import) thay vì xuất. Nếu thấy xuất hiện Startup Wizard khi khởi chạy Outlook trên PC mới, bạn nhấn Cancel, sau đó nhấn Yes.

    Cách rõ ràng nhất để nhập các tài khoản của bạn là chọn Tools.Accounts, nhấn nút Import, và nhập tập tin này vào từ máy tính cũ. Nếu đang dùng Office 2000, tác vụ này sẽ thành công. Điáng tiếc là bạn không thể nhập trực tiếp một tài khoản trong Outlook 2002 của Office XP. Để thực hiện việc này một cách gián tiếp, bạn cho chạy Outlook Express và chọn Tools.Accounts. Nhấn nút Import và nhập tập tin tài khoản mà bạn vừa chép từ máy tính cũ vào folder dùng chung hoặc vào đĩa tháo lắp. Nhấn Close, rồi đóng Outlook Express. Quay lại  Outlook, chọn File.Import and Export; sau đó chọn Import Internet Mail Account Settings và làm theo các hướng dẫn.
    Để nhập các quy tắc, chọn Tools.Rules Wizard, nhấn nút Options, rồi nhấn Import Rules. Đến đây chỉ việc nhập tập tin từ máy tính cũ.
    Việc nhập các folder tiến hành giống nhau trong cả hai phiên bản Outlook. Chọn File.Import and Export. Chọn Import from another program or file, sau đó chọn next. Nhấn Personal Folder File (.pst) và Next một lần nữa. Nhập tập tin các folder mà bạn vừa chép từ máy tính cũ vào folder dùng chung hoặc vào đĩa tháo lắp. Nếu một số folder cũ của bạn không xuất hiện trên Outlook Bar, chọn View.Folder.List và kéo chúng vào đó́.ÿ

    Bùi Xuân Toại
    PC World Mỹ 7/2002

    Gắn Tem Thời Gian Trong Excel
    Việc ghi ngày tháng hoặc dán tem thời gian cho một phiếu công tác Microsoft Excel rất đơn giản. Để đưa ngày tháng vào, bạn nhấn <Ctrl>-<;>. Đối với thời gian, nhấn <Ctrl>-<Shift+>-<;>. Để gắn tem thời gian đồng thời ghi ngày tháng, bạn nhấn <Ctrl>-<;>, nhấn Spacebar, rồi <Ctrl>-<Shift>-<;>. Để chuyển những tổ hợp phím này thành  macro, bạn chọn Tools.Macro.Record New Macro, đặt cho macro một tên, gán cho nó một tổ hợp phím shortcut, và nhấn OK. Đưa ngày tháng và thời gian vào như đã trình bày ở trên, rồi sau đó nhấn vào biểu tượng stop của thanh recorder. Để bổ sung ngày tháng và thời gian được cập nhập tự động, bạn gắn thêm các chức năng = today() và = now() vào macro của bạn.

    Sao lưu Favorites, địa chỉ trang web đã truy cập
    Để truy cập nhanh các trang web yêu thích, chúng ta thường đưa nó vào Favorites. Trong thanh Address của Internet Explorer bạn cũng sẽ thấy địa chỉ của những trang web mình đã vào. Vậy làm sao để lưu chúng lại nếu bạn phải cài đặt lại Windows hoặc chép sang máy khác?
    Đối với Windows 98, bạn hãy lưu lại các file thư mục Windows \Favorites, với Windows XP là thư mục Documents and Settings\User name\Favorites, trong đó User name là tên khi bạn đăng ký, ví dụ của tôi sẽ là E:\Documents and Settings\Vu Luong Bang\Favorites. Khi cài lại Windows, bạn chỉ cần chép các file này vào thư mục tương ứng.
    Để lưu các địa chỉ trong thanh address, bạn hãy vào Windows Registry bằng cách: từ menu Start, chọn Run, gõ regedit rồi Ok. Tìm tới nhánh HKEY_CURRENT_USER\Software \Microsoft\Internet Explorer\TypedURLs, để thanh sáng nằm ở nhánh TypedURLs rồi vào menu File chọn lệnh Export Registry file, chọn thư mục lưu file, nhập tên file lưu rồi nhấn vào Save. Khi cài lại xong Windows, bạn hãy chạy file này để add nó vào Windows Registry; hoặc là vào Windows Registry, chọn File\Import Registry file. Bạn cũng có thể vào nhánh này để xoá đi những địa chỉ không cần thiết.ÿ

    Vũ Lương Bằng
    vuluongbang@hcm.vnn.vn 

    ID: A0207_108