• Thứ Sáu, 09/01/2004 11:15 (GMT+7)

    Cho phép chương trình nào được truy cập internet

    Đôi khi chương trình bảo vệ (firewall) ZoneAlarm trên máy tính của tôi lại hỏi có nên cho phép ứng dụng nào đó (đã cài đặt trên máy) được phép truy cập internet hay không? Làm thế nào để quyết định khi chính bản thân tôi cũng không rõ mục đích.


    Hình 1: Thông báo của ZoneAlarm về một chương trình lưu trên máy đã bị thay đổi (nghi là chương trình Trojan).

    Nhìn chung, không nên cho phép bất cứ một phần mềm nào truy cập tự động internet nếu bạn chưa biết rõ mục đích. Trước khi nhấn vào phím No cũng nên nhớ bỏ đánh dấu chọn ở mục “Remember this answer the next time I use this program”, nếu không từ nay về sau phần mềm ZoneAlarm sẽ không thông báo cho bạn biết những lần định truy cập internet của phần mềm chưa hiểu rõ vừa nêu. Khi đã hiểu rõ rằng cần phải được truy cập internet thì một vài chức năng nào đó của phần mềm mới hoạt động được, bạn mới thực hiện các thủ tục cho phép tự động truy cập internet trên ZoneAlarm (nhớ đánh dấu chọn tại mục “Remember this answer the next time I use this program” để tránh việc ZoneAlarm hỏi lại nhiều lần). Tham khảo ý kiến của những người đã từng sử dụng phần mềm này cũng là một việc làm thiết thực giúp hiểu rõ phần mềm chúng ta đang sử dụng hoặc đã cài đặt trên máy tính. Hiện tượng vừa đề cập cũng rất hay xảy ra đối với chương trình có tên Svhost.exe. Đây là một chương trình thuộc hệ điều hành Windows 2000, XP làm nhiệm vụ truy cập internet cho các ứng dụng khác trong Windows như Internet Explorer... nếu không truy cập vào internet, một số chương trình của Windows sẽ không hoạt động được, do đó nên khai báo cho phép Svhost.xex truy cập internet trên ZoneAlarm.

    Do là một chương trình dịch vụ của hệ điều hành nên Svhost.exe hoạt động theo quyền hạn của ứng dụng sử dụng nó, vì vậy nếu máy tính của bạn bị hacker xâm nhập và thay thế một chương trình ứng dụng bằng chương trình bất hợp pháp của họ thì ZoneAlarm không thể nào phát hiện ra việc truy cập internet của chương trình bất hợp pháp. Nhận thức được điều này, các phần mềm firewall (với ZoneAlarm là phiên bản ZoneAlarm Pro 3) đã bổ sung chức năng phát hiện sự thay đổi (ngày tạo lập, dung lượng....) của các tập tin chương trình (.exe, .com, .dll, .dat....) và sẽ cảnh báo cho người sử dụng biết được có sự thay đổi đó.

     

    Chức Năng Hibernate

    Khác với Stanby hay Sleep, Hibernate là một chức năng mới cho phép người sử dụng lưu vào đĩa cứng tình trạng hoạt động hiện thời, tất cả thông tin đang nằm trên bộ nhớ RAM của máy tính trước khi tắt máy. Khi mở máy trở lại, tất cả các thông tin, trạng thái hoạt động trước đây đã ghi lại trên đĩa được chép trở vào RAM như cũ. Nhờ vậy người sử dụng có thể tiếp tục làm nốt công việc mà không cần phải làm thêm một số thủ tục như khởi động ứng dụng, mở tập tin.... như trước đây. (với một vài nhãn hiệu máy tính, đèn Power của máy tính có hiện tượng nhấp nháy).

    Chỉ có một vài loại bo mạch chủ hỗ trợ chức năng này, nếu máy tính hoạt động bất bình thường khi khởi động chức năng này từ hệ điều hành thì nguyên nhân là do phần cứng trong máy không hỗ trợ hibernate. Hãy liên hệ với nơi bán máy, web site của hãng sản xuất bo mạch chủ để cập nhật các chương trình điều khiển mới nhất.

    Thủ tục khởi động chức năng hibernate trong Windows như sau StartlSetting lControl Panel (với Windows XP nhấn StartlControl Panel, nhớ chọn chế độ View là Classic View) nhấn kép vào biểu tượng Power Option. Tại cửa sổ Power Option Properties chọn tab có nhãn là Hibernate (nếu không có tab này thì có nghĩa là máy tính của bạn không hỗ trợ chức năng này). Nhấn chọn vào nhãn có dòng chữ Enable hibernation hoặc Enable hibernate support, cuối cùng nhấn phím OK. Lưu ý: do máy tính sẽ lưu thông tin trên RAM vào đĩa cứng nên dung lượng đĩa cứng còn trống trên máy tính của bạn phải lớn hơn dung lượng RAM của máy.

    Đến lúc này bạn đã có thể sử dụng chức năng hibernate. Với Windows 98, Me, 2000 nhấn nút StartlShutdown, sau đó chọn Hibernate rồi nhấn phím OK. Với Windows XP nhấn nút StartlTurn Off Computer  (cũng có thể là Shutdown... tuỳ theo chế độ View mà bạn thiết lập) trong cửa sổ “Turn off your computer” chọn Hibernate.

    Cũng có một cách khởi động chế độ hibernate nhanh hơn như sau: trong cửa sổ Power Option Properties nhấn vào tab Advance, tại hộp chọn có nhãn “When I press the power button on my computer” hoặc “When I press the sleep button on my computer”, chọn Hibernate, cuối cùng nhấn phím OK.

     

    Phục hồi ứng dụng mặc định tương ứng với phần mở rộng của tập tin.

    Máy tính của tôi tự nhiên bị một chương trình “lạ” tự nhận mình là chương trình dùng để xem, soạn thảo một loạt các loại tập tin khác nhau. Mặc dù tôi đã gỡ bỏ chương trình này nhưng vẫn không phục hồi lại được như cũ. Vậy phải làm như thế nào?


    Hình 2 : Loại bỏ ký tự định dạng xuống dòng khi “dán” văn bản vào Word bằng công cụ tìm và thay thế (Find and Replace) của Word.

    Có nhiều cách để giải quyết yêu cầu này. Dễ dàng và mất công nhất là tiến hành khai báo lại cho từng loại tập tin thông qua thanh chọn lựa Open With của menu cảm ngữ cảnh (nhấn phím phải vào tập tin cần thiết lập). Với Windows XP, thủ tục thực hiện như sau: Khởi động Windows Explorer, nhấn chọn tập tin cần khai báo chương trình ứng dụng tương ứng, nhấn chuột phải rồi chọn menu Open With, chọn Choose Program, trong cửa sổ Open With, chọn ứng dụng bạn muốn sử dụng, đánh dấu chọn tại hộp chọn có nhãn là “Always use this program to open this kind of file”, nhấn OK. Với Windows 98, Me, 2000 giữ phím Shift và nhấn chuột phải chọn tập tin cần khai báo chương trình ứng dụng tương ứng, chọn Open With (hoặc Open With lChoose Program) trong cửa sổ Open With, sau đó làm tiếp các thủ tục tương tự như hướng dẫn tại phần Windows XP.

    Cách nhanh nhất là thực hiện phục hồi lại tập tin Registry của Windows. Nếu bạn thực hiện tốt chế độ sao lưu thì chỉ việc ghi đè nội dung trong Registry hiện thời bằng tập tin Registry sao lưu gần đây nhất.

    Trong trường hợp chưa thực hiện chế độ sao lưu, Windows thường tự động thực hiện sao lưu tập tin Registry trong một khoảng thời gian nào đó và ta có thể sử dụng các tập tin này để khôi phục hệ thống trở lại nguyên trạng như cũ. Thủ tục thực hiện như thế nào đề nghị các bạn tham khảo bài viết ‘Khắc phục máy tính bằng cách quay ngược thời gian” trang 87 đăng trong số 2/2001 tạp chí Thế Giới Vi Tính.

    Nhìn chung nên định kỳ thực hiện chế độ sao lưu tập tin Registry của Windows trước khi mọi rắc rối có thể xảy ra. Thủ tục sao lưu thực hiện như sau: Nhấn StartlRun, nhập vào chuỗi regedit rồi nhấn Enter. Tại cửa sổ bên trái của chương trình RegEdit di chuyển đến nhánh My Computer\HKEY_ LOCAL_MACHINE\SOFTWARE \Classes. Chọn menu Registry-Export Registry File (với XP là FilelExport) đặt tên cho tập tin và ghi vào thư mục nào đó. Thủ tục khôi phục lại tập tin Registry như sau: Nhấn kép vào tập tin sao lưu registry rồi chọn Yes khi máy tính hỏi có thực hiện cập nhật registry hay không.

     

    Nén Tập Tin Cũ Để Dành Đĩa

    Phần mềm tiện ích Disk Cleanup của Windows XP, nói rằng tôi có thể tiết kiệm được 1,5GB đĩa cứng nếu như chọn chức năng “Compress old files”. Làm như thế có lợi không?

    Chức năng này có trong phiên bản Windows 2000 và XP nhưng chỉ chạy trên đĩa cứng dùng hệ thống file NTFS. Sử dụng chức năng này trong XP như sau: Nhấn StartlAll ProgramslAccessories-System toolslDisk Cleanup (với Windows 2000 là StartlProgramslAccessories-System ToolslDisk Cleanup) chương trình sẽ tự động sao lưu và nén tất cả các tập tin được tạo lập hay bổ sung sửa đổi cách đây 50 ngày. Như vậy bạn sẽ tiết kiệm được một số dung lượng đĩa. Sau khi nén chúng ta vẫn có thể truy cập được các tập tin trong tập tin nén (tất nhiên sẽ hơi chậm hơn so với lúc chưa bị nén) như bình thường. Trong Windows Explorer, tên các tập tin nằm trong tập tin nén có màu xanh nước biển. Công nghệ nén tập tin đã có từ rất lâu và hoạt động ổn định nên bạn không cần phải lo lắng gì thêm.

    Khi muốn trả lại trạng thái ban đầu của các tập tin nén, chúng ta có thể thực hiện thủ tục xả nén bằng cách: Nhấn chuột phải lên tập tin nén, chọn Properties. Chọn Advance và bỏ đánh dấu chọn tại mục Compress contents to save disk space, nhấn OK.

     

    Xóa Bỏ Ký Tự Đặc Biệt Khi Thực Hiện “Cắt-Dán” Từ Outlook Express Vào Ms Word

    Khi tôi “cắt-dán” nội dung văn bản từ phần mềm Outlook Express vào Word thì thấy xuất hiện nhiều ký tự đặc biệt có hình dạng như dấu mũi tên nằm tại cuối các dòng văn bản. Làm thế nào để bỏ đi các ký tự đặc biệt này? (Để thấy được các ký tự đặc biệt của một văn bản trong Word thì phải khai báo cho phép hiện các ký tự đặc biệt -Formatting marks- Option)ltrong menu Tools

    Đây là ký tự điều khiển xuống dòng trong Word, từ chuyên môn gọi là “dấu ngắt mềm” (nghĩa là “xuống dòng nhưng không bắt đầu một đoạn văn bản mới”). Để loại bỏ chúng ta thực hiện thủ tục tìm và thay thế (Find and Replace) Find (Replace) hoặc nhấnltrong Word, cách thực hiện như sau: Chọn Edit phím Ctrl-H để mở cửa sổ Find and Replace, nhấn tiếp vào phím bấm có nhãn là “More” (nằm bên trái nhất tại hàng cuối cùng của cửa sổ Fine And Replace) để hiện ra thêm phần cửa sổ có tên là Search Options và Find

    Nhấn chuột để định vị con trỏ text vào trong hộp Find what, tiếp theo nhấn vào phím bấm có nhãn là Special rồi chọn menu có nhãn là Manual Line Break (trong hộp text Find what sẽ hiện ra ký tự có  dạng ^I. Nhấn chuột để định vị con trỏ text vào trong hộp Replace what, nhấn vào phím bấm có nhãn Special rồi chọn menu có nhãn là Paragraph Mark, trong hộp text Replace what hiện ra ký tự có dạng ^p, cuối cùng nhấn vào phím Replace All.

    Cuối cùng cũng xin giới thiệu một công cụ tiện ích dùng chung (shareware) có tên là Clip Strip, giá 5USD, dung lượng 961KB do nhóm phần mềm Innovative Software Creation xây dựng (website: www.iscreations.com), công cụ này có chức năng loại bỏ tất cả các ký tự định dạng của văn bản lưu trong clipboard (bộ nhớ đệm của máy tính giúp các phần mềm ứng dụng có thể trao đổi dữ liệu với nhau thông qua thủ tục “cắt-dán”). Tải về dùng thử tại địa chỉ find.pcworld.com/30302.


    Lê Thu

    PC World Mỹ 11/2002

     

    Spamnet: Trình ngăn chặn spam trong Outlook

          Tạp chí PC World gần đây có giới thiệu SpamKiller của McAfee (find.pcworld.com/27424) là tiện ích chống spam tốt nhất so với các chương trình khác, một phần vì nó làm việc được với nhiều loại chương trình email. MailWasher của Nick Bolton (giá 20 USD; find.pcworld.com/30335) sẽ giúp quét sạch spam khỏi server thư tín của bạn ngay trước khi bạn tải nó xuống. Cả hai đều là những công cụ tuyệt vời, nhưng đôi khi bạn lại muốn có trình tiêu hủy spam tự động để rãnh tay làm công việc khác. Trình Spamnet miễn phí của Cloudmark (find.pcworld .com/30336) có thể thỏa mãn yêu cầu đó. Chương trình này chỉ làm việc với Microsoft Outlook 2000 và XP (bản tương thích với Outlook Express đang được hiện thực). Trước hết chươmh trình sẽ tải toàn bộ thư xuống, nó có thể  tìm ra tất cả các email mang tính thương mại không mong muốn. Nếu phát hiện ra spam bị bỏ sót, bạn chọn thông điệp đó rồi nhấn nút Block mà SpamNet đặt ở thanh công cụ của Outlook. Ngược lại, muốn chuyển trở về in-box vài thông điệp không phải spam mà spamnet đã sai lầm đưa vào folder Spam, bạn chỉ việc nhấn vào nút Unblock. Các spam đã chặn và bỏ chặn được cập nhật vào cơ sở dữ liệu của Cloudmark, chứa các thông điệp spam đã biết. Điều này giúp nâng cao khả năng phát hiện của chương trình.

    ID: A0211_118