• Thứ Ba, 06/01/2004 09:41 (GMT+7)

    5 bước dọn dẹp windows

    Bạn là nguời hờ hửng trong viêc dọn dẹp windows? Chẳng thế mà trong các folder hệ thống của bạn đang ngập đầy hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tập tin không cần thiết. Khối lượng rác đó sẽ cản trở khả năng hoạt động của PC do chiếm dụng hết không gian ổ đĩa dùng làm bộ nhớ ảo. Ngoài ra, máy còn mất khả năng in nếu ổ đĩa không còn chỗ cho các tập tin tạm khi xuất ra máy in, và có thể bạn không còn đủ không gian lưu trữ để tạo sao lưu phục hồi hệ thống trong Windows Me và XP (tính năng này cần khá nhiều không gian đĩa). Sau đây là năm bước mà người dùng Windows có thể thực hiện để loại bỏ đám cỏ dại trong các folder hệ thống và giải phóng không gian cho các ổ đĩa.

    Loại bỏ các tập tin không cần thiết trong Windows 2000 và XP: Khá nhiều bạn đã hỏi về việc xóa các gói dịch vụ khác nhau được lưu giữ trong folder Windows. Một bạn đọc đã đặt vấn đề: 'Trong thư mục  Windows của tôi có đến 13 folder tổng cộng 85 MB mang các tên như $NTUnistallQxxxxxx$  (trong đó xxxxxx là sáu chữ số; xem hình 1), và một folder có tên  ServicePackFiles chiếm đến 280MB. Có thể xóa các folder này không?' Không được xóa folder ServicePackFiles và phải hết sức cẩn thận trong việc xóa bất kỳ tập tin nào trong folder Windows. Đồng thời bạn phải có trong tay một sao lưu hệ thống mới nhất trước khi bắt tay vào việc.


    Hình 1: Hiển thị tập tin ẩn để biết không gian chiếm dụng trong folder Windows

    Việc cài đặt các cập nhật và các gói dịch vụ của Microsoft sẽ tạo ra các folder con trong folder Windows dùng để chứa những thông tin hủy cài đặt cần thiết trong trường hợp cập nhật đó gây trục trặc. Đó là các folder ẩn; muốn xem được chúng, bạn cho chạy Explorer và chọn Tools.Folder Options.View. Trong danh sách các thiết lập bên dưới biểu tượng folder 'Hidden files and folders', bạn chọn Show hidden files and folders sau đó nhấn OK. Bây giờ bạn mở folder Windows trong Explorer (nhấn Show the contents of this folder nếu cần) để nhìn thấy được các folder cùng với những thông tin hủy cài đặt; thường chúng được đặt tên là '$NtServicePackUninstall$' hoặc '$NTUninstallQxxxxxx$'.

    Đôi khi bạn không nhớ những cập nhật này phục vụ cho mục đích gì, nhưng trong nhiều trường hợp bạn có thể nhận ra. Một bạn đọc khác đã chỉ ra phần giải đáp của Microsoft về vấn đề này. Chữ Q kèm theo 6 chữ số là chỉ mục trong Knowledge Base của Microsoft đề cập đến cập nhật đó. Để xác định mục đích của cập nhật cụ thể nào đó, bạn đến support.microsoft.com, nhập tổ hợp gồm chữ q rồi tiếp theo 6 chữ số vào trong hộp 'Search the Knowledge Base' (xem Hình 2) và ấn <Enter> để tìm thông tin chi tiết cần biết (có thể bạn phải sàng lọc thêm nếu kết quả tìm kiếm nhiều hơn một). Nếu biết chắc sẽ không bao giờ hủy cài đặt một cập nhật cụ thể nào đó, bạn hãy xóa folder của cập nhật này.

    Khi đã xóa folder hủy cài đặt, bạn sẽ không thể thực hiện hủy cài đặt đối với cập nhật đó, nhưng tùy chọn hủy cài đặt vẫn tồn tại trong applet Add/Remove Programs. Để khắc phục điều này, bạn chọn Start.Run, gõ control, và ấn <Enter>. Nhấn hoặc nhấn đúp Add or Remove Programs. Và với nút 'Change or Remove Programs' đã điểm sáng bên trái, bạn chọn cập nhật đã xóa rồi nhấn nút Remove hoặc Change/Remove bên cạnh nó. Khi Windows không tìm được folder hủy cài đặt đã bị loại bỏ, nó sẽ hỏi bạn có muốn loại bỏ chỉ mục này khỏi danh sách các chương trình cài đặt hiện thời của Add or Remove Programs hay không. Bạn nhấn Yes, và lặp lại các bước cần thiết đối với từng folder hủy cài đặt mà bạn đã xóa.

    Tuy nhiên, không phải mọi folder liên quan tới các gói dịch vụ đều có thể liệt vào danh sách rác rưởi. Ví dụ folder ServicePackFiles không được phép xóa, nó chứa các tập tin quan trọng để bạn cài đặt hoặc loại bỏ các thành phần của Windows khi dùng applet Add or Remove Programs trong Control Panel. Ngoài ra, nó còn chứa các tập tin dùng để phục hồi bất kỳ tập tin hệ thống nào bị hỏng hoặc bị ghi đè bởi các chương trình cài đặt hoạt động không tốt.


    Hình 2: Dùng số ID của cập nhật để tìm thông tin chi tiết trong Knowledge Base của Microsoft

    Cấp phát lại bộ nhớ ảo: Một trong các tập tin lớn nhất chứa trong folder Windows là tập tin bộ nhớ ảo - đó là không gian đĩa bổ sung cho RAM nhằm cho phép Windows hoạt động với bộ nhớ lớn hơn bộ nhớ hiện có. Rất may bạn có thể báo cho Windows đưa tập tin này (còn gọi là tập tin tráo đổi - swap file) lên ổ đĩa khác.
    Trong Windows 98 và Me, bạn nhấn phải My Computer và chọn Properties. Nhấn Performance.Virtual Memory và đánh dấu chọn lên Let me specify my own virtual memory settings. Trong danh sách 'Hard disk' , bạn chọn một ổ đĩa thay thế. Thiết lập 'Minimum size' và 'Maximum  size' với cùng con số. Nhấn Yes để chấp nhận cảnh báo, chọn Close và nhấn Yes để khởi động lại PC.


    Hình 3:Chuyển tập tin bộ nhớ ảo dung lượng lớn sang một hoặc nhiều ổ đĩa

    Trong Windows 2000 và XP, bạn đăng nhập trong vai trò người quản trị. Nhấn phải My Computer và chọn Properties. Nhấn Advanced, và trong hộp Performance bạn chọn Performance Options (Win 2000) hoặc Settings (XP). Trong Windows XP, bạn nhấn Change và chọn ổ đĩa đang được dùng cho bộ nhớ ảo. Thiết lập kích thước ban đầu và kích thước lớn nhất của nó đều về 0 trong Windows 2000, hoặc nhấn No paging file trong XP, rồi nhấn Set. Chọn ổ đĩa mà bạn muốn dùng cho bộ nhớ ảo, nhập các trị số kích thước ban đầu và lớn nhất bằng nhau, rồi nhấn Set (xem hình 3). Khi thực hiện xong bạn nhấn OK hai lần để đóng hộp thoại và chấp nhận thông báo khởi động lại. Sau đó nhấn OK hai lần nữa để đóng các hộp thoại còn lại. Cuối cùng nhấn Yes để khởi động lại PC.
    Đổi chỗ tập tin tạm dùng cho in ấn (spool): Một bạn đọc hỏi về một việc khác liên quan đến không gian đĩa: 'Ổ đĩa C của tôi đầy ắp nên bị báo lỗi khi in. Lỗi báo ổ đĩa hệ thống đã hết chỗ. Tôi đang có rất nhiều không gian trống trên ổ đĩa D:, tôi có thể chuyển tập tin spool sang phân vùng đĩa đó không?' Câu trả lời phụ thuộc vào phiên bản Windows nào bạn đang dùng.

    Khi in một tài liệu, đầu tiên trình ứng dụng gửi tạm dữ liệu vào đĩa cứng (tham khảo PCW VN A 10/2002 tr.102 hay đến find.pcworld.com/36359 để xem những thủ thuật tùy biến các thiết lập in ấn). Mặc định, Windows sẽ tạo tập tin spool trong folder Windows\Spool\Printers. Windows 2000 và XP cho phép bạn dễ dàng chọn vị trí khác cho tập tin này. Bạn chọn Start.Settings.Printer trong Windows 2000 hoặc Start.Printer and Faxes trong Windowx XP. (Lưu ý tiến hành chỉnh sửa khi không có tác vụ in nào đang thực hiện hay đang chờ).
    Với Win 2000 và XP, bạn chọn File.Server Properties.Advanced. Trong hộp 'Spool folder', bạn gõ đường dẫn đến folder mới - ví dụ, D:\Spool (xem hình 4). Gõ đường dẫn đến folder hiện có (Windows sẽ không tạo folder cho bạn). Nhấn OK rồi nhấn Yes để chấp nhận cảnh báo. Quy trình này sẽ có tác dụng cho tất cả các máy in lắp trong hệ thống của bạn.


    Hình 4: Đưa dữ liệu máy in tới ổ đĩa bạn chọn trong Windows 2000 và XP

    Trong Windows 2000 và XP, muốn thiết lập một folder spool khác cho một máy in đặc biệt nào đó, bạn phải chỉnh sửa registry. Trước hết, sao lưu registry (xem  hướng dẫn ở PCW VN A 4/2003 tr.106 hay find.pcworld.com/36626); sau đó chọn Start.Run, gõ regedit, và ấn <Enter>. Trong khung bên trái, chọn HKEY_LOCAL_MACHINES\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\Print \Printers. Trong khóa Printer (được biểu diễn với biểu tượng folder), bạn chọn khóa cho máy in của mình. Trong khung bên phải, bạn nhấn đúp SpoolDirectory (nếu không nhìn thấy biểu tượng này, bạn nhấn phải trong khung phải, chọn New.String Value, gõ SpoolDirectory và ấn <Enter>). Trong vùng 'Value data' của hộp thoại Edit String, bạn gõ vào đường dẫn đến folder spool mới. Bạn phải xác định một folder (chẳng hạn 'd:\spool') chứ không phải gốc của một ổ đĩa. Nhấn OK và thoát ra khỏi Registry Editor. (Nếu bạn xác định một folder không tồn tại, bạn phải tạo nó thủ công vì Windows không làm việc này thay cho bạn). Chọn Start.Run, gõ services.msc, và ấn <Enter>. Từ danh sách các dịch vụ vừa xuất hiện, bạn chọn Print Spooler, rồi chọn Action.Stop. Khi trình Spooler dừng, bạn chọn Action.Start và thoát khỏi Services.

    Trong Windows 98 và Me, để chuyển hướng tập tin spool in (và các tập tin tạm khác) sang ổ đĩa khác, bạn tạo một folder dành cho các tập tin này trên ổ đĩa đó. Ví dụ, bạn có thể tạo một folder tên Temp trên ổ đĩa D:. Sau đó chọn Start.Run, gõ notepad c:\autoexec.bat và ấn <Enter>. Nếu không tồn tại tập tin đó, Notepad sẽ hỏi bạn có muốn tạo một tập tin mới không, bạn nhấn Yes. Nếu tập tin đó chứa những dòng bắt đầu với 'set temp=' hoặc 'set tmp=', sửa lại những dòng này thành đường dẫn mới đến folder tạm của bạn (ví dụ, set temp=d:\temp). Nếu tập tin autoexec.bat của bạn không có dòng như vậy, bạn thêm vào dòng có dạng 'set temp=d:\temp', trong đó d:\temp là đường dẫn đến folder tạm mới của bạn. Thêm dòng khác có dạng 'set tmp=d:\temp' (ở đây cũng thay d:\temp bằng đường dẫn của bạn). Phải bảo đảm mỗi lệnh này nằm đúng trên một dòng riêng. Đến đây bạn lưu lại tập tin đó và khởi động lại máy tính để kích hoạt thay đổi.


    Hình 5: dùng tuỳ chọn của IE để triển khai báo nơi lưu các tập tin Internet tạm

    Đổi chỗ các tập tin tạm của browser: Internet Explorer lưu các tập tin cache của nó trên ổ đĩa Windows. Để chuyễn chỗ, bạn khởi chạy IE, chọn Tools.Internet Options, và ở mục General nhấn Settings.Move Folder (hình 5). Chọn một folder trên một ổ đĩa còn đủ không gian trống nào đó, nhấn OK hai lần, sau đó nhấn Yes để khởi động lại hoặc đăng xuất (log off) và chuyển các tập tin sang folder mới.
    Tự động dọn dẹp: Không phải lúc nào các trình ứng dụng cũng dọn sạch các tập tin tạm mà chúng đã đưa vào máy tính của bạn. Nếu đang dùng Windows 2000, Me, hoặc XP, bạn có thể tự động hóa tiện ích Disk Cleanup trang bị kèm với Windows. Xem chi tiết ở PCW VN A 12/2000 tr.101 hay find.pcworld.com/36365; mặc dù thủ thuật này chỉ trình bày cho Windows Me và 2000 nhưng cũng áp dụng được cho Windows XP. Tham khảo PCW VN A 7/2002 tr.102 hay đến find.pcworld.com/36368 để có nhiều thủ thuật hơn trong việc giải phóng không gian đĩa.

     

    ID: A0310_113