• Thứ Sáu, 12/03/2004 09:44 (GMT+7)

    Chọn CPU nào cho PC của bạn

    Bạn đang rủng rỉnh tiền 'lì xì' và đang quan tâm đến chiếc máy tính đang có hay sắp có của mình. Đặc biệt việc lựa chọn 3 thành phần chính của máy tính là bo mạch chủ, RAM và CPU là rất rắc rối bởi có quá nhiều lựa chọn. Đối với CPU, danh sách sẽ có sơ sơ khoảng chục dòng chip nếu chỉ tính riêng cho hai nhãn hiệu AMD và Intel: Intel Pentium 4, Pentium M, Celeron, Xeon, Itanium, AMD AthlonXP, Athlon64, Athlon64 FX, Duron, Opteron...

    Trong mỗi dòng lại có vài lọai khác nhau, ví dụ Pentium 4 có loại bus 400MHz, bus 533MHz hay 800MHz, có loại có siêu phân luồng (HyperThreading-HT), loại không... AMD AthlonXP thì có T-Bred, có Palomino, có Barton. Mỗi loại CPU lại ứng với chipset riêng, Pentium 4 có 845, 845D, 845PE, 845E, 848P, 875P, 865PE, 865P... AMD có VIA KT266/333/400/600 rồi nVIDIA nFORCE, SIS 748... có lẽ đã đủ cho bạn chóng mặt rồi!

    Tuy nhiên, bạn có thể không cần quan tâm lắm một số loại ví dụ Intel Celeron và AMD Duron là loại dành cho máy tính cấp thấp; Pentium M, Mobile Athlon cho máy xách tay và Opteron và Itanium là cho máy chủ v.v...

    Có lẽ hầu hết chúng ta chủ yếu quan tâm đến AMD Athlon XP, AMD Athlon 64, Athlon 64FX và dòng Intel Pentium 4. Giá cả thay đổi từ khoảng 50 USD cho một CPU AMD Athlon XP 1700+ cho tới 1200 USD cho loại Intel Pentium 4 Extreme Edition mới nhất với xung hệ thống từ 1500MHz cho tới 3400MHz. Ở đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu loại CPU nào cho tỉ lệ hiệu năng/giá tốt nhất, đồng thời cũng quan tâm đến khả năng ép xung của từng loại.

    Điều khá quan trọng trong khi chọn lựa CPU là bạn phải biết nó có đủ năng lực đáp ứng cho công việc của bạn trong hiện tại và tương lai hay không. Những loại CPU đáp ứng được nhu cầu tối thiểu thường có giá khá mềm.

    Nhìn theo khía cạnh kinh tế, loại CPU nhanh nhất và đắt nhất chỉ đáng quan tâm nếu bạn biết rõ hiệu năng vượt trội mà nó đem lại cho công việc mà đối với bạn 'thời giờ là tiền bạc'. Bạn cũng nên lưu ý là những loại CPU mới nhất như AMD Athlon 64 FX51 hay Intel Pentium 4 Extreme Edition là sản phẩm nhắm vào người dùng khát khao công nghệ sức mạnh và quan trọng là phải có tiền.

    Đế cắm: socket A, socket 478, socket 754 hay socket 940.

    Trong thời điểm hiện tại, việc chọn nền tảng cho máy tính không chỉ đơn thuần là chọn giữa AMD hay Intel mà còn phụ thuộc rất nhiều vào loại socket mà nó sử dụng. Đối với Intel vấn đề này có vẻ đơn giản hơn vì suốt từ năm 2002 tới bây giờ và trong vài tháng tới, Socket 478 vẫn thống trị các hệ thống để bàn. AMD thì lại khác, không như truyền thống sử dụng Socket A (hay còn gọi là Socket 462) đã theo chân CPU suốt từ thời Duron cách đây nhiều năm, vào thời điểm giới thiệu thế hệ CPU mới K8, họ đã đưa ra 2 chuẩn mới là Socket 754 cho Athlon64 và Socket 940 cho Athlon64FX51 và Opteron cao cấp. Tuy nhiên AMD vẫn phát hành các loại CPU cho Socket 462, nhanh nhất tới thời điểm hiện tại là 3200+. Bạn có thể tham khảo bảng 1.

    Tốc độ hệ thống và tốc độ thực của CPU

    Những nhà sản xuất lớn thường có những chiêu tiếp thị tinh vi, bằng cách sử dụng những từ chuyên môn khó hiểu khiến người dùng dễ bị 'rối loạn'. Hẵn bạn cũng từng bối rối về hiệu năng thực sự của CPU. Mỗi bộ xử lý đều có một tốc độ nhất định, gọi là tốc độ CPU hay tốc độ lõi (core speed). Vào lúc viết bài này, CPU nhanh nhất của Intel chạy ở tốc độ 3,2GHz và của AMD là 2,2GHz. Tuy nhiên bạn cần nhớ rằng tốc độ của hệ thống không thể chỉ nhìn vào số MHz, GHz của CPU, đặc biệt đối với 2 họ CPU khác nhau. AMD thường để tên CPU theo tốc độ benchmark tương ứng với CPU của Intel, ví dụ AthlonXP 3200+.

    Ngoài tốc độ bản thân, CPU cũng cần phải liên lạc với các thành phần bên ngoài và bus hệ thống hay còn gọi là Front Side Bus (FSB) sẽ đảm nhận công việc này. Chỉ có bộ xử lý Athlon64 sử dụng giao thức HyperTransport là có cách thức liên lạc hơi khác. Tốc độ cao hàng Gigahertz chỉ thực sự hiệu quả ở khoảng cách ngắn, nói cách khác, nếu khoảng cách quá xa, ví dụ như đến chipset thì tốc độ sẽ bị giảm nhưng thường không quá 200MHz, do đó các nhà sản xuất luôn tìm cách cải thiện con đường này.

    Nếu để ý, bạn sẽ thấy CPU sử dụng những công nghệ bus khác nhau, trong khi Intel Pentium 4 dùng Quad Data Rate thì AMD Athlon sử dụng Double Data Rate. Hiểu một cách đơn giản thì đối với bộ xử lý Athlon và RAM DDR thì dữ liệu được truyền đi trong cả 2 chu kì dẫn tín hiệu lên và xuống. Đối với DDR thì tốc độ vật lý 200MHz sẽ đem lại băng thông như là 400MHz đối với SDR, đó là lý do tại sao AMD luôn quảng cáo FSB 400MHz còn Intel là 800MHz.

    Thực tế tốc độ CPU là một hệ quả của bus hệ thống, ví dụ Pentium 4 3,2GHz có nghĩa nó có hệ số nhân 16 và tốc độ bus 200MHz và như vậy 3200MHz được tính theo công thức 16x200=3200.

    CPU, CPU và CPU

    1. Athlon XP - Người trung thành

    Một CPU AMD AthlonXP 2000+ có thể so sánh với Intel Pentium 4 2000MHz mặc dù nó làm việc ở tốc độ 1666MHz. Tuy nhiên chỉ số '+' còn tùy thuộc vào từng loại CPU AMD AthlonXP, ví dụ với lõi T-bred thì 3200+ tương ứng với 2,4GHz nhưng với lõi Barton thì nó chỉ là 2,2GHz.

    AMD lần đầu tiên vượt qua Intel khi loại chip Athlon của họ đạt tới tốc độ 1GHz trong khi đó Pentium III của Intel chỉ đạt đến tốc độ 933MHz. Trong năm sau đó, Intel đã đưa ra Pentium 4 đời đầu và đã bỏ xa Athlon về xung nhịp. Vì vậy AMD đã đưa ra một chỉ số gọi là số đo hiệu năng (Performance Rating) để xác định công suất của CPU, do cấu trúc CPU của họ khác hẳn của Intel.

    AMD Athlon XP dù giữ nguyên khe cắm Socket 462 nhưng tính năng được thay đổi khá nhiều trong những năm qua. Bộ nhớ hệ thống cải tiến liên tục từ chỗ chỉ sử dụng SDRAM PC133 cho tới DDR 266 rồi tới 333 và 400, sự ra đời của chipset nForce 2 đã mang lại công nghệ bộ nhớ kênh đôi (Dual Channel)... giúp hiệu năng tăng lên đáng kể.

    Sự ra đời của Athlon64 và 64FX đã báo hiệu sự kết thúc của thời Socket A tuy nhiên trong vài tháng tới, thậm chí là vài năm tới bạn vẫn sẽ thấy sự xuất hiện của CPU dùng đế cắm này. Dù sao AthlonXP vẫn là lựa chọn số 1 của người dùng vào thời điểm hiện tại tuy hiệu năng còn kém xa so với những hệ thống Intel Pentium 4 HT của Intel. Một CPU thông dụng bán ở thị trường VN là Barton 2500+ cho thấy khá nhiều ưu thế so với Pentium 4 A và B của Intel. Bạn có thể thấy ở rất nhiều diễn đàn tin học có những cuộc chiến không bao giờ dứt về sức mạnh của AMD Athlon XP và Intel Pentium 4; tuy ý kiến thường theo xu hướng dùng gì bênh nấy, nhưng nếu nhìn một cách khách quan, ta có thể nhận thấy những ưu nhược điểm cơ bản sau của Athlon XP (xem bảng 2).

    2. Người bạn mới Athlon64:

    Mới được ra mắt cách đây không lâu nhưng hiệu năng vượt trội của Athlon64 đã nhanh chóng được biết đến. AMD cho biết họ sẽ sử dụng Athlon64 ở dòng máy phổ thông. Trong tháng 9/2003 chỉ có loại 3200+ 1MB cache được giới thiệu dù hiệu năng rất hấp dẫn nhưng mức giá hơi cao đã khiến cho nhiều người còn ngần ngại. Ngay sau đó AMD Athlon64 3000+ được giới thiệu với 512K cache có giá hợp lý hơn mặc dù được xác định Performance Rating thấp hơn nhưng chúng có cùng tốc độ thực 2GHz.

    Một trong những điểm mạnh của AMD là việc hiệu năng sử dụng bộ nhớ tăng rõ rệt do có cache L2 lớn hơn và mạch điều khiển bộ nhớ được tích hợp thẳng vào CPU; cho phép CPU liên lạc trực tiếp với bộ nhớ chính và mạch điều khiển bộ nhớ hoạt động ở tốc độ của CPU.

    Hiện trên thị trường, giá của Athlon64 không hề rẻ, một CPU 3200+ có giá khoảng 400 USD trong khi tính năng hỗ trợ 64 bit của nó vẫn chưa thực sự có ích đối với dòng máy để bàn, khả năng định vị bộ nhớ lớn hơn 4GB là chưa cần thiết. Hiện tại một máy tính để bàn cắm khoảng 1GB RAM đã có thể coi là hơi thừa thãi; hơn nữa càng nhiều module bộ nhớ cắm vào thì tốc độ hoạt động của chúng sẽ càng giảm. Một thanh DDR400 chỉ có thể hoạt động ở đúng 400MHz nếu chỉ một mình nó được cắm vào main. Thêm vào đó là những ứng dụng 64 bit hầu như chưa có. Cơ bản nhất là hệ điều hành vẫn chưa sẵn sàng, hiện tại với nền tảng Windows thì chỉ có Windows 2003 Server 64 bit là hỗ trợ xử lý 64 bit nhưng đây là hệ điều hành mạng rất đắt tiền và rắc rối. Windows XP 64 bit Edition cho thị trường văn phòng và gia đình vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm Beta. Đối với những ứng dụng 32 bit, hiệu năng cải thiện không lớn, chủ yếu là do những cải tiến về cache và tốc độ băng thông. Ưu điểm tiêu thụ ít điện và có mạch xử lý tích hợp có thể khiến Athlon64 sẽ có giá trị hơn trong thị trường tính toán di động. Hiện tại một số thành viên của VOZ Forum (www.vozforums.com) đã có may mắn được sử dụng loại CPU này, bạn cũng có thể đọc thêm bài 'Mở rộng chân trời 64'  trong số này.


    Socket 754 và CPU Athlon64


    Bộ xử lý Athlon64 FX ở bên trái và Opteron ở bên phải

    3. Ngôi sao sáng Athlon64 FX:

    Bộ vi xử lý Athlon64 FX hiện đang là sản phẩm cao cấp hàng đầu của AMD. Về mặt kỹ thuật, CPU này không có gì khác về kiến trúc so với Opteron dành cho máy chủ ngoài việc cache L2 nhỏ hơn và không hỗ trợ đa bộ xử lý. Điều này có thể thấy rõ qua hình dưới:

    Những đặc điểm chính của nó là hoạt động ở tốc độ 2,2GHz, nhanh hơn 200MHz so với Athlon64 tuy nhiên lại cắm cùng khe cắm 940 với AMD Opteron; hỗ trợ 2 kênh bộ nhớ DDR400. Tuy nhiên do có cùng cấu trúc với Opteron nên FX51 có một số đặc điểm như chỉ hoạt động với Registered DIMM, điều này cho phép tín hiệu được bảo đảm và giảm bớt lượng điện năng tiêu thụ trong quá trình trao đổi thông tin. Hiệu năng làm việc của nó có thể khiến nhiều người phải bất ngờ. Nếu không nói quá lời thì nó sẽ cho Pentium 4 3,2GHz với công nghệ siêu phân luồng 'hụt hơi' trong hầu hết thử nghiệm benchmark. Tuy nhiên giá cả lại là điểm yếu của CPU mới này: khoảng 750 USD. Đây là một trong những loại CPU thuộc chuẩn x86 đắt nhất, chỉ thua Intel Pentium 4 Extreme Edition. Hiện tại ở VN hầu như chưa có công ty hay người dùng cá nhân nào nhập về loại CPU này, tuy nhiên một số hãng sản xuất bo mạch chủ đã giới thiệu sản phẩm hỗ trợ nó, điển hình là model SK8N của Asus sử dụng chipset nForce 3 Pro của nVIDIA (xem bảng 3).


    Bảng 3


    4. Intel pentium 4:
     
    Cho dù bạn có thích hay ghét bộ xử lý Intel Pentium 4 thì những hệ thống sử dụng Pentium 4 với băng thông hệ thống 800MHz và công nghệ siêu phân luồng (HT) luôn kết thúc mọi cuộc thử nghiệm với kết quả tuyệt vời.

    Về mặt công nghệ, HT cho phép tạo ra một môi trường làm việc nhanh hơn cho người dùng 'đa nhiệm' muốn mở nhiều ứng dụng cùng lúc. Đối với Windows 2000 mặc dù đã có hỗ trợ HT, nhất là từ bản Service Pack 4 nhưng việc bật/tắt HT không khác nhau nhiều và hầu như không thể nhận biết, chỉ với Windows XP trở về sau bạn mới cảm nhận được sự khác biệt khi có HT; tuy nhiên ứng dụng đơn có thể sẽ chạy chậm hơn trong một số trường hợp.

    Trong thời điểm này nếu mua những hệ thống Pentium 4 bạn nên mua loại có FSB800MHz hoặc tối thiểu là loại 3,06 Bus 533MHz với công nghệ HT, đi kèm với nó phải là 1 cặp DDR400 (chú ý đối với mainboard sử dụng chipset 875P, nếu 2 thanh RAM của bạn không cùng hãng sản xuất, cùng tốc độ và có cùng chip RAM thì trong phần lớn trường hợp công nghệ tăng tốc PAT (Performance Acceleration Technology) sẽ bị tắt khiến hiệu năng hệ thống giảm đi và như vậy bạn không tận dụng được ưu điểm của 875P so với 865). Trong điều kiện như vậy không thể thiếu chipset mạnh, bạn cần mua mainboard có chipset 875, 865 của Intel, PT880 của VIA hay SiS 655T. Sử dụng chipset loại cũ hoặc mua RAM chạy đơn là những quyết định sai lầm.

    Intel bán CPU của họ dưới dạng đóng gói (boxed) bao gồm cả bộ tản nhiệt và được bảo hành 3 năm, quạt đi kèm khá êm, tuy nhiên nếu bạn định ép xung cao hơn 3GHz thì bạn nên nghĩ đến giải pháp tản nhiệt hiệu quả hơn.

    Dẫn đầu trong dòng Intel Pentium 4 hiện tại là Pentium 4 Extreme Edition với 2MB cache L3, tuy giá tới 925 USD nhưng xứng đáng bởi nó vượt Athlon64 FX trong hầu hết ứng dụng. Tuy nhiên bạn chỉ nên mua nếu nó thực sự cần cho công việc, nếu không đó chỉ là một cách quẳng tiền qua cửa sổ. Theo Intel, dòng CPU này được nhắm vào các gamer 'ghiền' tốc độ (xem bảng 4).

    Overclocking: Tăng xung cho người sung

    MỘT TIÊU CHÍ QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI NHIỀU NGƯỜI KHI CHỌN MUA CPU là liệu nó có thể làm việc ổn định ở điều kiện ép xung tương đối cao hay không, chúng ta đang nói về khả năng overclock, dĩ nhiên rồi! Có 3 cách để có xung nhịp cao hơn là tăng FSB, tăng hệ số nhân (HSN) hoặc tăng cả hai. Tuy nhiên việc thay đổi HSN là không thể đối với CPU Intel vì từ lâu Intel đã khóa HSN với lý do chống hàng giả (remark), hơn nữa CPU của Intel được bao bọc rất cẩn thận nên việc 'chọc ngoáy' để mở khóa là không thể. CPU của AMD bắt đầu từ T-bred A cho tới Barton đều mở HSN, do đó bạn có thể tăng FSB và giảm HSN để tăng hiệu năng hệ thống. Tuy nhiên gần đây, đối với những CPU AthlonXP sản xuất từ tuần 41 trở đi, hệ số nhân đã bị khóa trở lại và đây là một tin buồn đối với người hâm mộ AMD; dù vậy Athlon64 vẫn không bị khóa HSN. Chắc chắn bạn sẽ thắc mắc làm sao để biết tuần sản xuất của CPU, cũng đơn giản thôi, hãy nhìn vào kí hiệu in trên CPU của AMD. Ví dụ như trong hình bên, chỗ khoanh đỏ là nơi bạn sẽ xem kí hiệu. Ở trường hợp này là AQXEA 0330RPMH thì con số 0330 chính là thứ bạn cần tìm - CPU này sản xuất vào tuần 30 năm 2003. Như vậy những CPU có mã cao hơn 0341 sẽ bị khóa HSN, lưu ý một số CPU từ 0338 đến 0341 cũng có thể bị khóa. Việc khóa này không chỉ chống hàng remark mà còn như là một thông điệp của nhà sản xuất: 'Nếu bạn muốn có thêm hiệu năng, hãy bỏ tiền mua CPU nhanh hơn'.

    Bên cạnh đó, khi tăng tốc độ CPU, tất cả các thành phần khác cũng sẽ hoạt động nhanh hơn (AGP, PCI, IDE, mạch điều khiển bộ nhớ...). Những bo mạch chủ tiên tiến cho phép bạn chạy mỗi thành phần ở một cấp số nhân nhất định so với bus hệ thống. Tuy nhiên không nên xem overclocking là một phương thức chuẩn để gia tăng hiệu suất hệ thống bởi không có gì đảm bảo hệ thống sau khi ép xung sẽ hoạt động 100% ổn định. Nếu sự nghiệp của bạn phụ thuộc vào một chiếc máy tính ổn định thì làm ơn tránh xa overclocking! Dù thế nào thì trên con đường tới một chiếc máy ổn định sau khi ép xung rất có thể bạn sẽ mất một vài thứ. Nếu không, xin mời cứ tự nhiên, cố gắng của bạn sẽ được đáp lại xứng đáng, tuy nhiên cẩn thận nếu bạn mắc 'bệnh tim'!

    AMD Athlon: AthlonXP là một loại CPU khá tuyệt vời. Trong bài này chúng ta đề cập đến loại thông dụng là Athlon XP T-Bred và Barton có khả năng thay đổi cả hệ số nhân và FSB. Thông thường CPU loại này có bus là 133 đối với T-bred và 166 đối với Barton bạn có thể chỉnh FSB lên 200 cho tương ứng với RAM DDR400 xịn của bạn. Còn HSN thì tùy, bạn có thể chỉnh trong khoảng từ 5 đến 12,5 tùy theo điện thế Core và nhiệt độ CPU, chi tiết bạn có thể tham khảo thêm tại diễn đàn VOZ (www.vozforums.com).

    Trong thử nghiệm, Athlon64 có thể chạy rất mượt ở tốc độ 2,2GHz, đặc biệt với Athlon64FX cho dù chỉ tăng một chút tốc độ, hiệu năng đem lại cũng rất lớn.
    Intel Pentium 4: Từ xưa đến nay Intel Pentium 4 luôn bị khóa hệ số nhân tuy nhiên khả năng OC lại luôn vượt AMD do cấu trúc CPU nhiều ưu điểm hơn. Với CPU 2,4GHz loại Pentium4 HT FSB800, ta có thể lên tốc độ 3,4GHz một cách dễ dàng.

    Lời cuối

    NHƯ ĐÃ NÓI Ở TRÊN, việc chọn CPU nào phụ thuộc phần lớn vào nhu cầu thực sự và túi tiền của bạn. CPU có xung nhịp cao rất thích hợp với công việc như dựng phim, chuyển đổi video số, âm nhạc... trong trường hợp này bạn có thể bỏ thêm tiền để mua bộ xử lý tốc độ cao như Pentium 4. Nếu không thực sự cần thiết, bạn nên tránh dòng sản phẩm đầu bảng (flagship) bởi giá của chúng rất cao so với hiệu năng cải thiện được. Đối với những người say mê cảm giác thực tại ảo và những cuộc chiến của thế giới game thì còn phải lưu ý đến card màn hình, yếu tố tiên quyết đối với game. Nếu card màn hình tốt mà máy cũ thì hơi khập khiễng và lãng phí, ví dụ bạn có card 9600Pro thì nên mua mainboard hỗ trợ AGP 8x và CPU từ Pentium 4 2,4GHz hoặc AMD Athlon XP 2500+ trở lên.

    Một vấn đề cũng gây nhiều tranh cãi là liệu chơi game thì AMD Athlon hay Intel Pentium 4 sẽ nhanh hơn? Câu trả tùy thuộc túi tiền của bạn. Nếu định mua Pentium 4 dưới 2GHz thì tôi khuyên bạn nên xem xét AMD bởi ở mức này AthlonXP rất có ưu thế. Tuy nhiên ở mức từ 2,4 trở lên thì Intel lại chiếm vị trí độc tôn đặc biệt với dòng chip mới có FSB800 và công nghệ siêu luồng. Nói chung thì chạy Intel Pentium 4 bạn sẽ có cảm giác 'đã' hơn nhiều so với AMD, ứng dụng có thể mở hàng loạt, multimedia chạy mượt mà, không chỉ máy tính mà dường như bạn cũng trở nên 'đa nhiệm'. Trong thời điểm bạn đọc bài viết này, một chiếc máy tính có bộ xử lý Athlon XP 2500+ hoặc Pentium 4-C 2,4GHz với 512MB RAM DDR400 là quá đủ cho những nhu cầu hàng ngày, thậm chí nó có thể đảm đương nhiều công việc trong vòng từ 18 đến 24 tháng tới. Intel Pentium 4 Extreme Edition và Athlon64 FX vẫn chỉ là giấc mơ bởi giá quá cao so với hiệu năng mà nó mang lại.
    Chúc bạn tìm được một bộ máy tính như ý và phù hợp với công việc của mình.

    Nguyễn Thúc Hoàng Linh
    valkyrie_lenneth@gamebox.net

    ID: A0402_86