• Thứ Ba, 15/06/2004 02:30 (GMT+7)

    Máy tính trục trặc? Tự mình chữa bách bệnh

    Những trục trặc kỹ thuật có thể giải quyết dễ dàng nếu bạn đoán đúng “bệnh” và biết cách “trị bệnh”, đây chính là điều mà cẩm nang kỹ thuật này mang đến cho bạn.
    Những trục trặc kỹ thuật có thể giải quyết dễ dàng nếu bạn đoán đúng 'bệnh' và biết cách 'trị bệnh', đây chính là điều mà cẩm nang kỹ thuật này mang đến cho bạn.

    Nhiều khi chỉ một trục trặc cũng làm chúng ta lao tâm, khổ tứ, tốn thời gian cả buổi trời mới khắc phục được, biện pháp khắc phục lại cực kỳ đơn giản, đôi khi chỉ cần một vài điều chỉnh nhỏ trong vài phút là thiết bị trở lại hoạt động bình thường. Quy trình chẩn đoán kỹ thuật 3 bước trong bài viết này là bí quyết phát hiện nguyên nhân hỏng hóc và biện pháp khắc phục cho tất cả các thiết bị điện tử xung quanh bạn.

      HỆ ĐIỀU HÀNH WINDOWS

    Hiện tượng: Máy tính không khởi động được hoặc thường bị 'treo' máy

    Bước 1: Hiện tượng này thường xảy ra sau khi máy tính được cập nhật các bản sửa lỗi (patch) của Windows, hay cài đặt thêm phần mềm điều khiển thiết bị mới nào đó. Cách khắc phục đơn giản nhất là thực hiện thủ tục gỡ bỏ (uninstall) các phần mềm này khỏi hệ thống thông qua chức năng Add or Remove Programs nằm trong cửa sổ Control Panel của Windows. Nếu đang sử dụng Windows XP thì có thể sử dụng chức năng khôi phục hệ thống có tên là System Restore để đưa máy tính về trạng thái hoạt động bình thường gần đây nhất. Đối với hệ điều hành Windows 2000 thì thủ tục thực hiện hơi khác một chút, bạn khởi động lại máy tính và đợi cho đến khi máy tính phát ra một tiếng bíp (hoàn thành thủ tục POST), nhấn phím F8 rồi chọn mục Last Known Good Configuration.

    Bước 2: Nếu sau khi đã thực hiện thủ tục trên mà hệ thống vẫn hoạt động không bình thường thì nhiều khả năng một thiết bị phần cứng hay một tập tin hệ thống nào đó của Windows 'có vấn đề'. Sử dụng chế độ khởi động Safe Mode của Windows để dò tìm nguyên nhân, thủ tục thực hiện như sau: Khởi động lại máy tính và đợi cho đến khi máy tính phát ra một tiếng bíp (hoàn thành thủ tục POST), nhấn phím F8 rồi chọn mục Safe Mode. Mở cửa sổ Control Panel, nhấn kép chuột vào biểu tượng có nhãn System. Trong cửa sổ có tiêu đề System Properties, chọn tab có nhãn Hardware rồi nhấn chuột vào nút có nhãn Device Manager. Quan sát trong cửa sổ Device Manager để tìm các thiết bị phần cứng có thêm một biểu tượng dấu chấm than (!) hoặc dấu hỏi chấm (?) đứng trước, đây chính là các thiết bị phần cứng 'có vấn đề'. Nhấn đúp chuột vào từng thiết bị bị đánh dấu 'có vấn đề' để thực hiện các điều chỉnh cần thiết như: Cài đặt lại tập tin điều khiển mới hay gỡ bỏ tập tin điều khiển thiết bị để tạm thời vô hiệu hóa thiết bị... Khởi động lại máy tính để xem máy có hoạt động bình thường hay không.

    Bước 3: Nếu các thủ tục thực hiện trong chế độ Safe Mode vẫn không đem lại thành công thì đã đến lúc phải cài lại Windows. Khởi động máy tính bằng đĩa mềm hay đĩa CD-ROM, chạy chương trình cài đặt hệ điều hành Windows và chọn chế độ cài đặt là 'To repair the selected Windows XP installation', đối với Windows 9x/2000 cũng có chức năng tương tự. Sau khi hoàn thành cài đặt lại Windows, bạn nên cài đặt các bản sửa lỗi của Windows (ngoại trừ phiên bản vừa gây bất ổn định cho hệ thống).

    Hiện tượng: Các tác vụ trong phần mềm Scheduled Task không chạy

    Bước 1: Với các tác vụ máy tính cần định kỳ hoạt động như sao lưu dữ liệu, dồn đĩa cứng... bạn sử dụng phần mềm có tên Scheduled Tasks để máy tự động khởi động các tác vụ cần thiết vào thời điểm phù hợp nhất định nào đó.

    Nếu phát hiện một số tác vụ tự nhiên không hoạt động thì có nhiều khả năng do người sử dụng đã thay đổi mật khẩu đăng nhập hệ thống nhưng lại quên cập nhật lại thông tin này trong mục khai báo mật khẩu khởi động tác vụ của phần mềm Scheduled Tasks. Thủ tục để khai báo lại như sau: Bạn hãy nhấn chuột vào Start->Programs->Accessories->System Tools->Scheduled Tasks.

    Duyệt danh sách các tác vụ được lập lịch thực hiện, chú ý phát hiện các tác vụ có dòng chữ Never tại cột có tiêu đề là Last Run Time, điều này có nghĩa là tác vụ đó chưa được chạy lần nào và khả năng là do mật khẩu gán cho tác vụ không trùng với mật khẩu của người sử dụng.

    Thủ tục để gán lại mật khẩu như sau: Nhấn chuột phải vào biểu tượng của tác vụ, chọn trình đơn Properties, trong tab có nhãn Task lưu ý xem thông tin tại hộp có nhãn 'Run as' để kiểm tra lại account của người sử dụng có đúng không, nhấn chuột vào phím bấm có nhãn Passwords để khai báo lại mật khẩu hợp lệ.

    Bước 2: Nếu hiện tượng vẫn không khắc phục thì tiến hành rà soát lại trạng thái hoạt động của Scheduled Tasks thông qua tập tin nhật ký của ứng dụng. Thủ tục thực hiện như sau: Nhấn chuột vào Start->All Programs->Accessories->System Tools->Scheduled Tasks. Trong cửa sổ Scheduled Tasks, chọn menu Advanced->View Log. Máy tính sẽ khởi động NotePad.exe để mở tập tin nhật ký của Scheduled Tasks (lưu ở dạng văn bản với tên tập tin là SchedLgU.txt), thực hiện thủ tục tìm kiếm trong NotePad với từ khóa là 5 ký tự * (*****), các dòng thông báo mới nhất về tình trạng hoạt động của Scheduled Tasks nằm trên dòng ký tự '[ ***** Most recent entry is above this line ***** ]', nghiên cứu các thông báo lỗi (nếu có) để tìm ra cách khắc phục, ví dụ như phần mềm bị lỗi, quyền hạn người sử dụng gán cho tác vụ không thích hợp....

    Bước 3: Hiện tượng vẫn xảy ra như cũ, nhiều khả năng do chúng ta khai báo quyền khởi động tác vụ cho Scheduled Tasks không phù hợp với yêu cầu của Windows, muốn tự động khởi động các tác vụ hệ thống như là chép lưu dữ liệu, dọn đĩa cứng... thì Scheduled Tasks phải được gán cho các tài khoản (account) thuộc cấp quản trị hệ thống (administrator user) và mật khẩu đăng nhập hệ thống không được là những khoảng trắng. Chọn hay tạo mới một account thỏa mãn điều kiện vừa nêu và thực hiện lại quá trình xây dựng các tác vụ định kỳ hoạt động cho Scheduled Tasks.


    Windows XP không thông báo những tác vụ không thực hiện được.
       AN TOÀN HỆ THỐNG

     

     

    Sử dụng bức tường lửa do Windows XP cung cấp cũng làm giảm nguy cơ máy tính bị xâm nhập bất hợp pháp.

    Triệu chứng: Máy tính có hiện tượng bất bình thường

    Bước 1: Nếu máy tính chưa từng được cài đặt phần mềm chống virút thì đây chính là thời điểm cài đặt phần mềm này. Sau khi cài đặt xong nên cập nhật danh mục các loại virút máy tính mới nhất để phần mềm chống vi rút hoạt động hiệu quả hơn.

    Bước 2: Mặc dầu máy tính không bị nhiễm vi rút, bạn đã cài đặt phần mềm bức tường lửa cho máy nhưng đèn LED của modem hay card mạng luôn tỏ ra bận rộn trao đổi dữ liệu với Internet thì nhiều khi do Windows tự động tiến hành cập nhật các bản sửa lỗi.

     Bước 3: Nhưng nếu như đèn LED của modem không tắt sau vài giờ đồng hồ thì nhiều khả năng máy tính của bạn bị nhiễm virút mới mà phần mềm chống virút chưa nhận ra. Tạm thời ngắt kết nối Internet, tham khảo thêm thông tin để xem có loại virút máy tính mới xuất hiện không (trên một máy tính khác) để tiến hành cập nhật cần thiết rồi kết nối Internet trở lại.
     

      DỊCH VỤ INTERNET VÀ THƯ TÍN ĐIỆN TỬ

    Hiện tượng: Không nhận được thư điện tử

    Bước 1: Nếu hôm qua bạn vẫn còn nhận được thư thì nhiều khả năng đường truyền Internet có trục trặc gì đó, máy chủ của nhà cung cấp kết nối Internet bị hư hay bị virút phá hoại... Tạm ngưng sử dụng Internet một vài giờ đồng hồ và thử kết nối lại xem đường truyền hoạt động bình thường chưa. Cũng nên điện thoại cho nhà cung cấp dịch vụ để hỏi xem họ có bị trục trặc gì không và được hướng dẫn cụ thể thủ tục khắc phục tạm thời.

    Bước 2: Nếu đường truyền Internet, máy chủ quản trị thư tín của nhà cung cấp không có vấn đề thì hãy kiểm tra lại thông tin kết nối vào máy chủ của nhà cung cấp đã đúng chưa và vì lý do gì đó có bị thay đổi không.

    Bước 3: Nếu trục trặc không nằm ở đường truyền, không phải do nhà cung cấp thì phần mềm nhận thư tín của bạn có thể bị hư hỏng hay sai thông tin về cấu hình. Điển hình là phần mềm Microsoft Outlook, phần mềm này lưu mọi dữ liệu vào một tập tin có phần mở rộng là PST nên khi tập tin này có vấn đề thì Outlook hoạt động mất ổn định ngay lập tức. Microsoft đã cung cấp phần mềm Inbox Repair Tool đi cùng phần mềm Outlook để khôi phục tập tin có phần mở rộng PST bị hư hỏng, thủ tục thực hiện như sau: khởi động tập tin Scanpst.exe,  Inbox Repair Tool sẽ tự động sửa chữa hư hỏng (nếu có) cho tập tin *.PST của bạn, để đảm bảo chắc chắn nên chạy chương trình Scandisk để sửa chữa hư hỏng của đĩa cứng trước khi chạy phần mềm Inbox Repair Tool, tham khảo thêm thông tin tại địa chỉ http://www.slipstick.com/problems/scanpst.htm để được hướng dẫn sử dụng tiện ích Inbox Repair Tool một cách chi tiết hơn. Nếu bạn đang sử dụng Outlook 2000 hay 2002 thì thủ tục thực hiện hơi khác đi một chút. Tắt OutLook, đổi tên tất cả các tập tin có phần mở rộng là *.pst. Khởi động lại Outlook để phần mềm tự động phát sinh tập tin *.pst mới, nhấn chuột chọn File->Open->Personal Folders File và di chuyển đến nơi lưu các tập tin *.pst vừa bị đổi tên như đã nói ở trên. Nội dung các tập tin này sẽ tự động xuất hiện trong Outlook. Thực hiện thủ tục cắt-dán để chuyển thông tin từ tập tin *.pst cũ sang tập tin *.pst mới do Outlook tạo ra.

    Ngoài ra các bạn cũng nên tham khảo trang web của tạp chí Thế Giới Vi Tính, http://www.pcworld.com.vn và thực hiện tìm kiếm với từ khóa 'Outlook' hay 'thư tín điện tử' để tham khảo các bài viết hướng dẫn giải quyết sự cố cho phần mềm nhận thư tín điện tử khác nhau đăng trong các số trước đây.


    Dùng Spybot Search & Destroy cùng với Ad-ware để loại bỏ các phần mềm xâm nhập bất hợp pháp.

    Hiện tượng: Mỗi khi khởi động, Internet Explorer luôn tham khảo đến một trang web lạ

    Bước 1: Nếu máy của bạn mới mua thì địa chỉ mặc định thường là địa chỉ web site của hãng sản xuất. Thủ tục thay đổi trang web mặc định cho Internet Explorer (IE) như sau: Nhấn chuột chọn menu Tools->Internet Options, nhập địa chỉ web bạn muốn là mặc định vào hộp text có nhãn Address trong mục Home Page, cuối cùng nhấn chuột vào nút có nhãn Apply. Đôi khi IE tự động truy cập đến web site của hãng Microsoft để thông báo một số cập nhật sửa lỗi mới phát hành, trong trường hợp này chỉ cần nhấn nút có nhãn Home có biểu tượng hình ngôi nhà trên thanh tác vụ của IE.

    Bước 2: Một vài địa chỉ Web thương mại, quảng cáo hay dịch vụ tìm cách thay đổi thông tin địa chỉ web mặc định của bạn về một địa chỉ nào đó. Thực hiện thủ tục vừa đề cập ở trên để sửa lại địa chỉ web bị thay đổi. Sau đó thoát khỏi IE rồi khởi động lại để thay đổi của bạn có hiệu lực.

    Bước 3: Nếu các thủ tục trên không có hiệu lực thì nhiều khả năng máy tính của bạn đã bị cài lén các phần mềm 'gián điệp', tải về sử dụng các phần mềm miễn phí như Ad-ware (find.pcworld.com/38240) hay Spybot Search & Destroy (find.pcworld.com/41582) để loại trừ các phần mềm 'gián điệp' trên.

      ĐĨA CỨNG

    Hiện tượng: Nhận được thông báo lỗi khi truy xuất tập tin

    Bước 1: Nếu hiện tượng này xảy ra trong khi đang soạn thảo văn bản hay chạy các chương trình ứng dụng thì sử dụng các chức năng tự động khôi phục dữ liệu tích hợp trong phần mềm hay ghi nội dung công việc vào đĩa mềm hay ổ đĩa cứng khác với đĩa cứng đang có hiện tượng nghi hỏng hóc.

    Bước 2: Nếu hiện tượng này xảy ra trên các máy tính hoạt động cả ngày, hoặc phần mềm theo dõi nhiệt độ của máy tính thông báo nhiệt độ trong máy luôn cao hơn 35 độ C thì nhiều khả năng hệ thống tản nhiệt của máy tính bị trục trặc, kiểm tra lại hệ thống quạt tản nhiệt và đặt máy tại nơi thoáng gió...

    Bước 3: Chạy tiện ích Scandisk có sẵn trong Windows để phát hiện và đánh dấu bỏ các vị trí vật lý trên đĩa cứng bị hư. Thủ tục thực hiện như sau, nhấn đúp chuột vào biểu tượng My Computer, trong cửa sổ My Computer nhấn chuột phải tại biểu tượng ổ đĩa nghi hư hỏng, chọn menu Properties, chọn tab có nhãn Tools rồi nhấn chuột vào nút có nhãn Check Now, trong cửa sổ Check disk nhấn chuột vào nút có nhãn Start. Trong quá trình thực hiện nếu thấy chương trình báo đĩa bị lỗi nhiều lần thì nên thay đĩa cứng mới.

    Hiện tượng: Máy tính không khởi động được hay không nhận dạng được ổ đĩa cứng


    Bảng theo dõi nhiệt độ máy tính của phần mềm Mother-Board Monitor
     

    Bước 1: Kiểm tra xem dây cấp nguồn cho đĩa cứng và cáp dữ liệu của đĩa cứng đã cắm đúng kỹ thuật chưa. Dây cáp cắm lỏng cũng gây ra hiện tượng máy không nhận dạng được ổ đĩa cứng.

    Bước 2: Nếu bạn mới lắp thêm 1 đĩa cứng mới dùng chung cáp dữ liệu chuẩn IDE thì phải đảm bảo chắc chắn ổ đĩa cứng dùng để khởi động máy tính phải được cấu hình là master, các ổ đĩa khác cấu hình là slave. Tham khảo bài viết 'Đạt tốc độ cao nhất với ổ đĩa mới' trong số tháng 9/2002 để có thêm thông tin về cách cấu hình các thiết bị dùng chung IDE.

    Bước 3: Nhiều khả năng đĩa cứng bị hư hay vùng đĩa cứng dành cho việc khởi động hệ điều hành bị hư. Khởi động máy bằng đĩa mềm hay CD-ROM để kiểm tra lại tình trạng của đĩa cứng. Cũng có thể tháo đĩa cứng nghi bị hư hỏng và lắp vào một máy tính đang hoạt động bình thường để kiểm tra lại. Nếu ổ đĩa vẫn còn tốt thì chép lưu các dữ liệu quan trọng và tiến hành định dạng lại đĩa.

    Hiện tượng: Thời gian truy xuất đĩa chậm và máy tính chạy chậm dần

    Bước 1: Đĩa cứng bị phân mảnh quá nhiều cũng làm ảnh hưởng đến tốc độ hoạt động của hệ điều hành và hiện tượng này khắc phục được bằng cách sử dụng công cụ Disk Defragmenter có trong Windows. Ngoài ra dung lượng RAM quá ít cũng làm máy chạy chậm, ví dụ như Windows XP đòi hỏi máy tính phải có ít nhất 256MB RAM.

    Bước 2: Có khi máy tính của bạn bị lén cài đặt các chương trình 'gián điệp', sử dụng các tiện ích như Ad-ware hay Spybot Search & Destroy để loại bỏ các chương trình này.

    Bước 3: Nếu trong khi hoạt động, mỗi một lần truy xuất tập tin đĩa cứng chạy rất lâu và phát ra tiếng kêu lạch cạch thì tuổi thọ đĩa gần chấm dứt, cần phải thay ngay đĩa mới.

      MÁY TÍNH XÁCH TAY
     

    Chọn các chế độ hoạt động của Win-dows cho phù hợp với yêu cầu công việc để tiết kiệm pin

    Hiện tượng: Mau hết pin

    Bước 1: Xem lại cấu hình quản lý nguồn điện của Windows và khai báo chế độ quản lý cho máy tính phù hợp với yêu cầu sử dụng. Để màn hình quá sáng cũng là một nguyên nhân gây mau hết pin. Tránh sử dụng các ứng dụng tiêu thụ nhiều điện năng trong khi máy không sử dụng điện nguồn trực tiếp vì điều này cũng làm cho tuổi thọ của pin bị ảnh hưởng.

    Bước 2: Tuổi thọ của pin xạc khá ngắn, pin loại lithium có tuổi thọ khoảng 18 tháng, pin loại niken thì bền hơn nhưng lại bị hiện tượng 'no điện'. Nên thay pin sau khi sử dụng liên tục khoảng 1 năm.

    Bước 3: Có một số loại máy tính xách tay mới sản xuất gần đây sử dụng các thiết bị chuyên dùng cho máy tính bàn như là CPU Pentinum IV, đĩa cứng có tốc độ vòng quay 7200 vòng/phút, nên có yêu cầu tiêu thụ điện năng cao, ngốn hết điện của pin chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ. Nếu máy tính của bạn thuộc loại này thì nên mua thêm một vài bộ pin gắn ngoài hay lắp thêm bộ pin thứ hai vào máy (nếu máy tính thiết kế sử dụng 2 bộ pin).

      MÁY IN

    Hiện tượng: Máy in không làm việc

    Bước 1: Kiểm tra lại xem ổ cắm điện, dây điện và cáp truyền dữ liệu giữa máy tính với máy in có chắc chắn không, máy in đã bật công tắc chưa. Kế tiếp, mở máy in để xem máy có bị kẹt giấy bên trong không. Nhấn chuột chọn Start->Settings->Printers and Faxes để mở cửa sổ quản lý máy in. Trong cửa sổ có nhãn Printers and Faxes, kiểm tra xem máy in đã được khai báo là 'defaut' chưa, nếu chưa thì nhấn chuột phải tại biểu tượng của máy in và chọn menu Set as Default Printer. Tiếp theo điều khiển máy in thử bằng thủ tục nhấn chuột phải tại biểu tượng của máy in rồi chọn menu có nhãn Properties, trong cửa sổ Properties của máy in, chọn tab có nhãn General, nhấn chuột vào nút có nhãn Print Test Page.

    Bước 2: Đối với các máy in kết nối với máy tính bằng cổng USB thì có thể nguyên nhân do ngõ cắm USB gây ra. Tháo cáp kết nối máy in khỏi cổng USB, đợi khoảng 1 phút rồi cắm cáp máy in vào cổng USB trở lại. Nếu máy in vẫn không hoạt động, thì thử tạm thời tháo bỏ bớt một vài thiết bị đang cắm vào máy tính để tránh bị xung đột giữa các thiết bị cùng sử dụng USB.

    Bước 3: Nếu kiểm tra trong trình quản lý máy tính thấy thủ tục in hoạt động bình thường thì trục trặc có thể do máy in gây ra. Bật tắt công tắc nguồn của máy in để khởi động lại máy in. Kiểm tra xem máy in có bị kẹt giấy hay khai báo loại giấy in không phù hợp không. Nếu các hiện tượng này xảy ra liên tục thì nhiều khả năng máy in đã bị hư.

    Hiện tượng: Bản in bị nhạt màu, nhìn không rõ hay bị hạt lấm tấm

    Bước 1: Kiểm tra xem còn mực in không, giấy in có đúng yêu cầu kỹ thuật không, phần mềm điều khiển thiết bị in có đúng với chủng loại máy in không.

    Bước 2: Một vài loại máy in bị hiện tượng đóng cặn ở ống mực làm cho mực bị tắc, ra không đều, dùng phần mềm tiện ích (thường đi kèm theo máy in) hay quy trình kỹ thuật hướng dẫn trong tài liệu của máy in để điều khiển máy in thực hiện các thao tác làm sạch ống mực. Cũng có khi do các ứng dụng mới cài đặt xung đột với phần mềm điều khiển máy in, cập nhật lại phần mềm điều khiển máy in mới nhất. Ngoài ra cũng có khả năng công nghệ in ấn của máy in không thích hợp với yêu cầu chất lượng của bản in, thử sử dụng phần mềm nâng chất lượng in có tên là QImage Pro (tải về sử dụng tại địa chỉ http://www.ddisoftware.com/qimage), phần mềm này giúp các máy in cũ nâng chất lượng bản in.

    Bước 3: Nếu đang dùng ống mực, mực in dạng 'tận dụng' thì nhiều khả năng chất lượng mực kém gây nghẹt ống mực, bụi mực bám vào bản in. Tháo ống mực ra và làm vệ sinh cho ống mực sạch sẽ. Trường hợp xấu nhất là máy in không thích hợp cho yêu cầu in các bản in có chất lượng nghệ thuật. Trong số tháng 9/2003 chuyên mục 'Mua gì, ở đâu' trang 70, của tạp chí TGVT đã giới thiệu các loại máy in phù hợp cho từng nhu cầu công việc cũng như khả năng tài chính khác nhau.

      Ổ GHI CD VÀ DVD

    Hiện tượng: Ghi đĩa nửa chừng thì bị hỏng

    Bước 1: Máy tính phải chạy quá nhiều ứng dụng hoặc có 1 ứng dụng đang chạy nào đó sử dụng quá nhiều công suất của CPU trong khi thực hiện việc ghi đĩa cũng gây ra hiện tượng ghi đĩa bị hỏng nửa chừng. Trong khi thực hiện ghi đĩa nên tắt bớt càng nhiều càng tốt các ứng dụng không cần thiết.

    Bước 2: Cũng có khi nguyên nhân do sự không tương thích giữa loại đĩa CD/DVD với ổ ghi CD/DVD. Có ổ ghi CD/DVD hoạt động rất tốt với đĩa do hãng TDK sản xuất nhưng lại gặp trục trặc khi ghi đĩa do Philips hay Sony sản xuất. Vì vậy, khi mua đĩa nên tham khảo tài liệu của hãng sản xuất để phòng ngừa hiện tượng này, truy cập trang web DVDRhelp.com để có thêm thông tin về chủ đề này.

    Bước 3: Nếu loại trừ được các khả năng trên thì có thể do cấu hình phần cứng không đúng. Các ổ ghi CD/DVD chuẩn IDE thường yêu cầu phải được cài đặt ổ đĩa có độ ưu tiên cao nhất (primary), trong khi đó ổ đĩa cứng dùng để khởi động máy tính cũng cần độ ưu tiên này. Nên sử dụng hai cáp IDE khác nhau và cấu hình để cả ổ ghi CD/DVD lẫn đĩa cứng khởi động máy cùng có độ ưu tiên là primary.

    Hiện tượng: Không đọc được đĩa CD/DVD do ổ ghi tạo ra

     

    Dùng IsoBuster để cứu nội dung các tập tin bị ghi hỏng trên đĩa CD/DVD

    Bước 1: Nếu Windows Explorer vẫn hiển thị được dung lượng đĩa và không nhìn thấy các tập tin trên đĩa thì nguyên nhân là do ổ ghi đĩa sau khi ghi xong thông tin không tiến hành thủ tục 'đóng đĩa' (close session) hoặc cũng có thể tốc độ ghi đĩa cao hơn so với tốc độ đọc của ổ CD/DVD. Nhớ khai báo yêu cầu ổ ghi thực hiện thủ tục 'đóng đĩa' sau khi ghi đĩa thành công và nên sử dụng tốc độ ghi đĩa chậm.

    Bước 2: Xuất hiện hiện tượng một vài tập tin trên đĩa CD/DVD mới ghi xong đã bị hỏng. Nên cập nhật bộ nhớ ROM của ổ ghi CD/DVD, sử dụng phần mềm điều khiển mới nhất do nhà sản xuất cung cấp. Để cứu thông tin bị ghi hỏng trên đĩa, có thể sử dụng tiện ích IsoBuster (tải về sử dụng tại địa chỉ http://www.smart-projects.net/isobuster) để ghi lại các thông tin bị hỏng trên đĩa CD/DVD thành các tập tin lưu trên đĩa cứng.

    Bước 3: Hư hỏng vẫn không được khắc phục, nếu thử ghi với nhiều phần mềm ghi đĩa khác nhau mà sự cố vẫn như cũ thì nhiều khả năng ổ ghi đã bị hỏng.

      MÀN HÌNH MÁY TÍNH VÀ CARD ĐỒ HỌA

    Hiện tượng: Hình ảnh trên màn hình trông không thật, màu sắc nhợt nhạt

    Bước 1: Hình ảnh bị co lại hay dãn rộng hơn kích thước của màn hình thì nguyên nhân do sự không tương thích về độ phân giải giữa màn hình với card đồ họa. Nhấn chuột phải vào vùng trống trên màn hình desktop, chọn menu Properties rồi chọn mục Setting trong cửa sổ Display Properties. Khai báo lại độ phân giải cũng như chế độ hiển thị màu của màn hình cho chính xác, cuối cùng nhấn nút có nhãn Apply. Nếu hiện tượng này xảy ra khi chơi trò chơi điện tử thì có khả năng phần mềm điều khiển card đồ họa bị lỗi, cập nhật lại phần mềm điều khiển card đồ họa, không cần thiết phải tìm phiên bản mới nhất mà chọn các phiên bản chạy ổn định. Ngoài ra cũng nên cập nhật các bản sửa lỗi cho phần mềm trò chơi điện tử.

     

    Bước 2: Nếu hình ảnh hiện ra quá mờ hay bị biến chất, quá đỏ hay quá xanh thì khả năng do dây cáp màn hình cắm không khớp hay bị đứt một số dây tín hiệu, một số kim trong phích nối của màn hình bị cong... Hiện tượng này cũng hay xảy ra với các màn hình CRT bị nhiễm từ do các thiết bị như loa, ti vi, giàn karaoke để quá gần màn hình.

    Bước 3: Màn hình CRT của bạn bị hiện tượng đôi khi chạy 'nhập nhoạng' hay phát ra tiếng nổ lốp bốp như ngô rang. Màn hình loại tinh thể lỏng (LCD) bị mờ đi và nhấp nháy liên hồi. Nếu tinh chỉnh các nút chỉnh sáng tối trên màn hình và thực hiện khử từ (màn hình CRT) mà vẫn không khắc phục được hiện tượng thì nên đem màn hình của bạn đến cửa hàng sửa chữa.

    Hiện tượng: Không nhìn thấy hình ảnh

    Bước 1: Cáp nối màn hình chưa cắm vào máy tính hoặc bị hư, cũng có khi bạn cắm sai ngõ cắm. Các card màn hình cao cấp có ngõ cắm cho hai loại tín hiệu tương tự và số.

    Bước 2: Nếu không phải vì nguyên nhân trên thì nhiều khả năng card đồ họa bị quá nóng do tản nhiệt kém. Dùng tiện ích MotherBoard Monitor để kiểm tra nhiệt độ của card màn hình. Mở vỏ máy để xem quạt tản nhiệt cho card màn hình có hoạt động không.

    Bước 3: Nếu hư hỏng vẫn chưa được khắc phục, thử thay một màn hình đang hoạt động tốt. Nếu vẫn không thấy có tín hiệu phát ra thì có thể card màn hình đã bị hỏng. Kiểm tra bằng cách khởi động lại máy và quan sát trong quá trình khởi động xem các dòng thông báo về cấu hình máy tính lưu trong ROM có xuất hiện trên màn hình hay không. Nếu vẫn không thấy thì 100% card màn hình đã bị hỏng. Nếu thấy được hình ảnh sau khi lắp màn hình mới thì nguyên nhân là do màn hình máy tính.

      ĐẦU ĐỌC DVD

    Triệu chứng: Đầu DVD đang chạy bỗng nhiên đứng 'chết lặng' một vài giây đồng hồ

    Bước 1: Nếu hiện tượng xảy ra lặp đi lặp lại tại những cảnh phim nhất định thì nguyên nhân do kỹ thuật ghi đĩa DVD layer switch gây ra. Kỹ thuật này ghi dữ liệu thành 2 lớp: Lớp dữ liệu đầu được ghi theo hình xoắn ốc chạy từ tâm đĩa ra ngoài, lớp dữ liệu thứ hai cũng được ghi theo hình xoắn ốc nhưng chạy từ vành đĩa vào trong. Khi phát, đầu DVD phải tốn 1 khoảng thời gian để chuyển hướng và dịch chuyển đầu đọc. Tùy thuộc vào tốc độ thực hiện thao tác này của từng loại đầu DVD, cùng một đĩa DVD nhưng có đầu gây ra hiện tượng trên, có đầu không.

    Bước 2: Nếu hình phát trên tivi bị 'cao lêu khêu' hay có hình 'quả bí ngô' thì nguyên nhân do cài đặt chế độ màn ảnh rộng (16:9) giữa đầu đọc DVD và tivi không đồng nhất. Nếu một trong hai thiết bị chỉ hỗ trợ chế độ phát hình bình thường (4:3) thì phải cài đặt cả hai về chế độ này. Bạn có thể tham khảo địa chỉ web Digital Bits (www.thedigitalbits.com/articles/anamorphic/) để hiểu rõ hơn về chức năng phát hình màn ảnh rộng 16:9.

    Bước 3: Nếu hiện tượng này xảy ra cùng với hiện tượng 'nhảy đĩa' thì nhiều khả năng do đĩa DVD bị bẩn hay xước... Nếu đĩa  DVD còn mới thì dùng vải sạch, trơn để chùi. Nếu đĩa bị các vết xước quá sâu nên bỏ đi, tuy nhiên với các đĩa DVD quý, hiếm thì nên đem ra tiệm đánh bóng đĩa để thử khắc phục các vết xước.

      TIVI MÀN ẢNH RỘNG

    Hiện tượng: Xuất hiện các thanh màu xám/tối ở hai cạnh trên/dưới của màn hình

    Bước 1: Hiện nay các chế độ video ngày càng phong phú, nếu bạn xem phim thường bằng tivi màn ảnh rộng thì hình ảnh chỉ chiếm một diện tích hình vuông trên màn hình, ngược lại nếu bạn xem phim màn ảnh rộng trên ti vi thường thì hình ảnh bị hẹp lại theo hình chữ nhật. Nếu tivi có hỗ trợ các chế độ hình khác nhau thì dùng remote dể chọn chế độ phát hình cho phù hợp.

    Bước 2: Đôi khi hiện tượng này xảy ra do việc phát lẫn lộn các nguồn phim ảnh có chất lượng khác nhau của đài truyền hình. Ví dụ như phát tin quảng cáo ở chế độ bình thường nhưng chiếu phim màn ảnh rộng...

    Bước 3: Nếu hiện tượng này xảy ra trong khi đang xem phim DVD thì có thể do bạn cài đặt tivi hay đầu máy chưa đúng chế độ hoạt động. Tham khảo thêm phần giải quyết sự cố cho đầu máy DVD có trong bài này.

      MÁY ẢNH SỐ

    Hiện tượng: một vài điểm đen, vết xước xuất hiện tại những vị trí cố định trên ảnh

    Bước 1: Có thể bề mặt ống kính bị bụi hay vết bẩn bám vào. Dùng một miếng vải sạch, mịn mặt (thường có bán tại các cửa hàng bán dụng cụ máy ảnh) lau sạch bề mặt của ống kính.

    Bước 2: Nếu vẫn không khắc phục được thì có khả năng hệ thống tế bào quang CCD của máy có vấn đề. Hệ thống tế bào quang CCD có chức năng như các hạt cảm quang trên phim hay giấy ảnh thông thường. Kiểm tra bằng cách chụp ảnh một tờ giấy trắng hay bề mặt sơn trắng hoàn toàn. Nếu một vài tế bào quang bị hư thì trên ảnh sẽ có một vài điểm đen. Với các máy dùng ống kính SLR, bạn có thể tháo ống kính ra và dùng vòi khí nén, ống bơm thổi vào vùng buồng tối của thân máy, thực hiện thủ thuật này trong môi trường không khí khô và sạch.

    Bước 3: Thực hiện các bước trên mà ảnh vẫn không sạch thì nên thuê cửa hàng dịch vụ máy ảnh làm vệ sinh giúp bạn bằng chất tẩy rửa chuyên dùng. Nếu hiện tượng vẫn xảy ra như cũ thì nhiều khả năng ống kính hay hệ thống tế bào quang đã có vấn đề, liên hệ trạm bảo hành để sửa chữa.

    Hiện tượng: Ống kính của máy ảnh không di chuyển trơn tru như trước

    Bước 1: Kiểm tra xem pin có bị yếu hay có cường độ dòng điện không thích hợp. Ngoài ra, thời tiết quá lạnh cũng làm cho hệ thống cơ trong máy không hoạt động tốt.

    Bước 2: Nếu hệ thống cơ của ống kính có trục trặc (có thông báo lỗi xuất hiện trên màn hình tinh thể lỏng hay không chỉnh rõ được hình) thì có thể phần mềm điều khiển trong máy bị trục trặc và phải khởi động lại máy từ đầu. Tháo pin ra khỏi máy, nếu máy có pin nuôi đồng hồ thì cũng tháo ra luôn. Để máy trong tình trạng không có nguồn từ 5-10 phút rồi lắp lại pin và bật máy lên. Nếu hiện tượng cũ vẫn xảy ra thì có khả năng phần mềm điều khiển ống kính có lỗi, hãy đem máy đến trạm bảo hành hay cửa hàng chuyên về máy ảnh số để cập nhật lại.

    Bước 3: Máy vẫn trong tình trạng hư hỏng thì chuyển trọng tâm xem xét sang phần cơ. Lắng nghe xem máy có phát ra âm thanh chuyển động của hệ thống cơ khi bật/tắt công tắc nguồn không. Có thể hệ thống cơ của ống kính bị kẹt hay trật bánh răng. lắc nhẹ máy để làm chúng ăn khớp lại. Nếu làm đủ cách mà máy vẫn bị trục trặc thì đã đến lúc đem máy của bạn đến cửa hàng sửa chữa.

    Hiện tượng: Không thể truy cập ảnh trên thẻ nhớ

    Bước 1: Có thể tập tin ảnh vô tình bị xóa. Dùng các công cụ phục hồi, ví dụ như tiện ích File Scavenger (www.quetek.com/prod02.htm). Phần mềm này sẽ dò tìm rồi liệt kê tất cả các tập tin ảnh đã bị xóa trên thẻ nhớ và giúp bạn phục hồi lại nếu như vùng dữ liệu của tập tin chưa bị sử dụng cho tập tin ảnh khác.

    Bước 2: Nếu máy ảnh của bạn không nhận dạng được thẻ nhớ thì có khả năng hệ thống quản lý tập tin trên thẻ nhớ không tương thích với hệ thống quản lý đọc/ghi tập tin của máy ảnh. Ví dụ như một vài loại máy ảnh số chỉ hỗ trợ hệ thống tập tin FAT16 trong khi đó thẻ nhớ được định dạng FAT32. Dùng thiết bị đọc thẻ để xem có truy cập được các tập tin ảnh lưu trong thẻ nhớ hay không, chép lưu những tập tin ảnh cần thiết vào máy tính rồi dùng máy ảnh hay thiết bị đọc thẻ để định dạng (format) lại thẻ nhớ.

    Bước 3: Nếu thẻ nhớ vẫn không sử dụng được, thử lắp thẻ nhớ vào một máy ảnh khác hay thiết bị đọc thẻ tương thích với định dạng của thẻ. Nếu vẫn gặp hiện tượng tương tự thì có thể thẻ nhớ đã bị hư. Ngược lại, vẫn đọc/ghi được thông tin lên thẻ nhớ, thì có thể máy ảnh của bạn có vấn đề.ÿ

    Lê Thu
    PC World Mỹ 5/2004

    ID: A0405_98