• Thứ Ba, 15/06/2004 02:32 (GMT+7)

    Dùng MAGNIFIER để phóng đại vùng quan sát

    Nếu cho rằng các công cụ và thiết lập Accessibility của Windows chỉ đành cho người tàn tật thì bạn đã đánh mất nhiều thứ đáng giá. Chẳng hạn như Magnifier (trình phóng to) thực hiện đúng công việc như tên gọi của nó. Chương trình này rất có ích cho việc dạy học, giới thiệu sản phẩm, hay bất kỳ thuyết trình nào. Magnifier cũng rất có ích cho các kỹ sư phần mềm, các nhà thiết kế giao diện, và cho bất kỳ ai cần phóng to một vùng màn hình làm việc.

    Trong Windows 9x, có thể bạn phải cài đặt tiện ích này từ đĩa CD Windows: đưa đĩa CD vào máy, nhấn Start.Settings.Control Panel, và nhấn đúp Add/Remove Programs. Nhấn nhãn Windows Setup, và bảo đảm Accessibility đã được chọn trong danh sách Components. Sau đó nhấn Details, đánh dấu chọn lên ô ứng với Accessbility Tools, và nhấn OK hai lần.

    Để khởi chạy Magnifier, bạn chọn Start.Programs (All Programs trong XP).Accessories.Accessibility.Magnifier. Để thuận tiện, bạn kéo ngay shortcut này vào một menu khác. Hoặc chọn Start.Run, gõ Magnify, và nhấn OK. Trong hầu hết các phiên bản Windows, Magnifier sẽ khởi chạy bằng cách hiển thị một hộp thông báo để giải thích; đánh dấu chọn Do not show this message again nếu bạn không muốn hiển thị hộp thông báo này lần sau.

    Nhấn OK để khởi chạy tiện ích này. Theo mặc định, cửa sổ Magnifier xuất hiện ở đỉnh màn hình, và phóng to tất cả những gì nằm dưới con trỏ chuột của bạn. Nếu không vừa ý với kích thước của nó, bạn đặt con trỏ lên cạnh của cửa sổ và kéo để mở rộng hay thu hẹp nó. Định vị lại Magnifier bằng cách đặt con trỏ bên trong cửa sổ và kéo nó đến bất kỳ cạnh nào của màn hình. (Hình 1)

     


    Hình 1: Kéo cửa sổ Magnifier để đặt nó ở giữa màn hình hoặc ở bất kỳ cạnh nào của màn hình.

    Hộp thoại của Magnifier cho phép bạn thiết lập mức độ phóng to, quyết định có luôn hiển thị những gì nằm dưới con trỏ hay không, xác định có phải dò theo dấu nháy văn bản khi bạn gõ vào và sửa đổi hay không (hình 2) v.v... Trước hết bạn hãy thử dùng các thiết lập mặc định; chúng rất tiện lợi nếu bạn muốn cho những người khác nhìn thấy dễ dàng những công việc bạn đang làm trên máy tính (dĩ nhiên nếu bạn có máy chiếu thì càng tốt hơn). Mặt khác, nếu mục đích của bạn là phóng to một vùng khó đọc trên màn hình (như một thanh công cụ có nhiều nút li ti chẳng hạn), bạn bỏ chọn mục Follow keyboard focus và dòng Follow text editing. Sau đó bảo đảm khu vực mà bạn muốn thấy rõ được hiển thị trong cửa sổ phóng to, và ấn <Alt>-M để tắt tính năng 'Follow mouse cursor'. Nhấn OK để thu nhỏ cực tiểu hộp thoại (trong Windows 9x) hoặc nhấn nút cực tiểu hóa (trong các phiên bản khác).

    Đương nhiên, bạn sẽ không muốn bận bịu với các cài đặt của Magnifier trong lúc đứng lớp hoặc làm demo. Nếu bàn phím có phím <Windows> thì rất thuận lợi. Ví dụ ấn <Windows>-<Up Arrow> sẽ tăng mức độ phóng to, còn ấn <Windows>-<Down Arrow> sẽ làm giảm.


    Hình 2: Hộp thoại Magnifier Settings cho phép bạn thiết lập ính năng phóng to.

     

    Thủ thuật cuối cùng: Nếu đang dùng phiên bản  Windows không phải XP, và bạn cần một ảnh chụp màn hình có cả con trỏ chuột, bạn có thể dùng Magnifier thay vì phải mua một trình công cụ bắt giữ màn hình. Trước hết bạn sắp xếp các cửa sổ Magnifier và các cửa sổ khác mà bạn cần chụp. Trong hộp thoại Magnifier Settings, bạn thiết lập mức Magnification ở bậc 1. Sau đó đặt con trỏ vào nơi mà bạn cần, và ấn <Print Screen> (hoặc phím cùng chức năng trên bàn phím của bạn) để sao chụp toàn bộ màn hình vào Clipboard. Chọn Start.Programs.Accessories.Paint để khởi chạy trình ứng dụng biên tập hình bitmap, và ấn <Ctrl>-V để dán hình này vào cửa sổ hình. Nhấn Yes nếu được nhắc mở rộng khu vực bitmap, và sau đó nhấn công cụ bất kỳ ở bên trái để hoàn thành việc dán. Dùng công cụ chọn hình chữ nhật và kéo để cắt bớt những phần không cần thiết trong ảnh chụp. Cuối cùng, chọn Edit.Copy To để đặt hình thu được vào trong một tập tin riêng. Chọn vị trí, gõ vào tên, và nhấn Save.

    Tùy biến trình tiết kiệm màn hình đăng nhập

    Khi bật mở máy tính nhưng không đăng nhập (log-on) vào Windows (hoặc khi log-off nhưng không tắt nguồn), Windows sẽ tự động hiển thị trình tiết kiệm màn hình có logo bập bềnh của nó. Bạn có thể thay đổi trình tiết kiệm màn hình này để hợp với ý thích của mình hơn - đồng thời điều chỉnh thời gian xuất hiện của nó - bằng một chỉnh sửa đơn giản với Registry.

     


    Hình 3: Quay lại drive cũ của bạn thông qua nhãn Driver của hộp thoại Properties.

    Để biết những tùy chọn của trình tiết kiệm màn hình đang hiện diện trong hệ thống của mình, bạn chọn Start.Search hay Start.Search.For Files and Folders. Nhập *.scr vào hộp văn bản trên cùng, và chọn folder Windows (trong XP) hoặc folder Winnt (trong 2000) trong hộp 'Look in'. Nhấn Search. Khi quá trình tìm kiếm kết thúc, bạn chọn lấy một trình tiết kiệm màn hình từ danh sách các kết quả ở bên phải.

    Nếu không thể xác định được trình tiết kiệm màn hình qua tên tập tin, bạn nhấn đúp nó trong cửa sổ kết quả để xem nó hoạt động như thế nào. Di chuyển chuột hoặc ấn một phím trên bàn phím để tắt nó. Khi đã quyết định được một trình tiết kiệm, bạn chọn nó và ấn <F2>, rồi sau đó ấn <Ctrl>-C để chép tên của nó vào Clipboard. Đóng cửa sổ tìm kiếm lại.

    Đến đây bạn nhấn Start.Run, gõ regedit, và ấn <Enter> để khởi chạy Registry Editor. Duyệt khung cây bên trái đến khoá HKEY_USERS\.DEFAUT\Control Panel\Desktop. Với biểu tượng Desktop đã chọn ở bên trái, bạn nhấn đúp SCRNSAVE.EXE trong khung bên phải. Ấn <Ctrl>-V để dán tên của tập tin .scr được chọn lên trên văn bản logon.scr hiện có, và nhấn OK. Để điều chỉnh khoảng thời gian Windows đợi lâu hay mau trước khi trình tiết kiệm màn hình hoạt động, bạn nhấn đúp ScreenSaveTimeOut, gõ khoảng thời gian tính bằng giây mà bạn muốn Windows phải đợi, và nhấn OK. Nếu bạn không muốn có trình tiết kiệm màn hình log-on nào xuất hiện, thì cũng không khó. Chỉ cần nhấn đúp ScreenSaveActive, đổi '1' thành '0', và nhấn OK.

    Chia tay với Driver không phù hợp


    Hình 4: Cách ly các'lỗ đen' trên đĩa cứng thông qua tùy chọn này trong tiện ích ScanDisk

     

    Bạn tải xuống một driver mới cho card đồ họa, bàn phím, card âm thanh, hay một bộ phận phần cứng nào đó, và mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Phải làm gì đây? Bạn sẽ phải nhờ đến tính năng System Restore của Windows, nhưng việc quay trở lại vào lúc này có thể vô hiệu hóa các thay đổi hệ thống quan trọng khác trong quá trình khắc phục những trục trặc driver.

    Rất may, như đề xuất của một bạn đọc, Windows sẽ giữ nguyên driver cũ để bạn 'undo' đối với vị khách mời không phù hợp này. Bạn đăng nhập dưới danh nghĩa người quản lý, mở Windows Explorer, nhấn phải My Computer, và chọn Properties. (Hoặc chỉ ấn <Windows>-<Break> nếu đang dùng bàn phím Windows). Sau đó bạn nhấn Hardware.Device Manager. (Hoặc ấn <Windows>-R, gõ devmgmt.msc, và ấn <Enter>.

    Trong cửa sổ Device Manager, bạn chuyển đến thiết bị phần cứng ứng với driver trục trặc. Nhấn đúp biểu tượng của phần cứng đó và chọn Driver. Nhấn nút Roll Back Driver, và đáp ứng mọi nhắc nhở trên màn hình. (Hình 3)

    Xử lý những Sector hỏng trên đĩa

    Tôi gặp khó khăn trong việc cất các tập tin vào đĩa cứng, có lẽ do những cluster hỏng trên đó. Có chương trình Windows nào có thể cách ly các cluster hỏng đó hay không?

     


    Hình 5: Nhảy ngay vào Safe Mode thông qua biểu tượng được trong New Shortcut Wizard.

    Tiện ích Scandisk đi kèm với Windows sẽ làm việc này cho bạn. Trong Windows 9x và Me, bạn chọn Start.Programs.Accessories.System Tools.ScanDisk. Chọn tên ổ đĩa hoặc các ổ đĩa nghi có sector hỏng, chọn Thorough bên dưới 'Type of test', và nhấn Start. Trong Windows 2000 và XP, bạn mở Explorer, nhấn phải lên ổ đĩa mà bạn muốn kiểm tra, và chọn Properties. Nhấn nhãn Tools, và nhấn Check Now bên dưới 'Error checking'. Trong hộp thoại Check Disk, bạn chọn Scan for and attempt recovery of bad sectors. Windows sẽ phục hồi tối đa dữ liệu từ các sector hỏng theo khả năng của nó và sẽ chuyển các dữ liệu đó sang vùng khác của đĩa. Sau đó Windows đánh dấu 'bad' vùng đĩa hỏng và sẽ không dùng đến nó sau này. (Hình 4)

    Việc chọn tính năng 'Thorough' hay 'recovery' có thể gây cảm giác quá trình kiểm tra đĩa kéo dài hơn, nhưng rất tốt vì nó sẽ làm mọi cách để dữ liệu của bạn không còn bị rơi vào những 'hố đen' này nữa.

    Shortcut cho chế độ an toàn

    Chế độ an toàn (Safe Mode) là một biện pháp rất tốt để chẩn đoán bệnh cho máy tính. Để đăng nhập vào chế độ này, thông thường bạn phải khởi động lại máy, ấn <Ctrl> hoặc <F8> để trông thấy menu khởi động, dùng các phím mũi tên để chọn Safe Mode, và sau đó ấn <Enter>.

      Mở rộng tầm nhìn bằng UltraMagnifier    
     

    Nếu cần có một trình phóng to màn hình mạnh hơn tiện ích Magnifier của Windows, bạn hãy dùng thử UltraMagnifier của Pallium Consulting Services. Ngoài khả năng cung cấp một số mức phóng to (1x, 2x, 8x, 16x và 32x), UltraMagnifier còn cho bạn một mạng lưới pixel có thể tùy biến và một thanh trạng thái thể hiện các giá trị màu của pixel nằm dưới con trỏ và các tọa độ của nó trên màn hình. Bạn còn có thể cất hình đã phóng to dưới dạng các tập tin .bmp hoặc .png, cũng như chức năng in và xem trước bản in. Lợi ích cao nhất là không phải trả một đồng nào. Bạn đến find.pcworld.com/40511 để tải xuống.

       
     
       

    Có một độc giả đã đề nghị cách tạo một shortcut để khởi động lại Windows vào Safe Mode bằng một hoặc hai cú nhấn chuột.

    Trước hết bạn mở folder sẽ chứa shortcut này. Nếu định đưa nó vào menu Start, bạn nhấn phải nút Start và chọn Open hoặc Explore. Chuyển đến folder phụ tương ứng với menu mà bạn muốn dùng cho shortcut Safe Mode, nhấn phải trong folder phụ này, và chọn New.Shortcut. Trong hộp có dòng Command, bạn gõ win /d:m và nhấn Next. Gõ vào tên của shortcut và nhấn Next lần nữa. Cuối cùng bạn chọn một biểu tượng thích hợp và nhấn Finish (xem hình 5). Bây giờ bạn nhấn phải lên biểu tượng shortcut mới của mình và chọn Properties. Cho nhãn Program và sau đó chọn nút Advanced. Đánh dấu chọn lên hộp MS-DOS mode, và bỏ chọn đối với Warn before entering MS-DOS mode. Nhấn OK hai lần. Từ đây về sau, bạn chỉ cần chọn shortcut của mình từ vị trí menu Start của nó (hoặc nhấn đúp lên nó nếu nó nằm trong desktop) và ngồi đợi cho đến khi Windows hoàn tất quá trình chuyển sang Safe Mode.

    Hệ điều hành của bạn đã đến hồi kết thúc?

    Không có cái gì tồn tại mãi. Đối với máy tính, đó cũng là quy luật. Microsoft chỉ hỗ trợ các phiên bản Windows của mình trong thời gian khoảng 5 năm. Khi một trong các hệ điều hành này trở nên 'luống tuổi', Microsoft khuyến khích bạn nâng cấp lên phiên bản Windows mới hơn bằng cách đình chỉ mọi hỗ trợ đối với phiên bản cũ (để tiết kiệm chi phí của công ty). Bạn đến thăm find.pcworld.com/40502 để biết những thông tin về tuổi thọ của các phiên bản Windows, cũng như thời điểm dự kiến kết thúc sự hỗ trợ cho phiên bản của bạn. Nếu hỗ trợ của Microsoft đóng vai trò quan trọng đối với bạn, thì đó là thời điểm bạn phải nghĩ tới việc nâng cấp hệ điều hành.ÿ

    Xuân Cường
    PC World Mỹ 5/2004

    ID: A0405_115