• Thứ Sáu, 03/06/2005 23:14 (GMT+7)

    Lập trình web ASP với tiếng Việt Unicode

    Bảng Mã Unicode

    Về bản chất, máy tính chỉ làm việc với các con số, do đó để biểu diễn các kí tự trên máy tính cần phải có một qui ước nhất quán giữa các kí tự cần biểu diễn và các con số tương ứng mà máy tính xử lí. Qui ước này được thể hiện qua các bước sau:

    - Chọn tập các kí tự cần mã hóa (character set).

    - Gán cho mỗi kí tự cần mã hóa một giá trị nguyên không âm, gọi là điểm mã (code point).

    - Chuyển các điểm mã thành dãy các đơn vị mã (code units) để cho phục vụ cho việc lưu trữ và mã hóa. Một đơn vị mã là một đơn vị của bộ nhớ, có thể là 8, 16, hay 32 bit. Các điểm mã không nhất thiết phải có cùng số đơn vị mã.
    Tập hợp những điểm mã của một tập các kí tự được gọi là một trang mã (code page) hay còn gọi là bảng mã hay bộ mã. Như vậy khi nói về một bảng mã, chúng ta quan tâm đến hai điều chính: số lượng các kí tự được mã hóa, và cách mã hóa chúng thành các đơn vị mã.

    Với bảng mã 8-bit, mỗi điểm mã được mã hóa bằng đúng một đơn vị mã 8-bit, số lượng các kí tự được mã chỉ là 256. Số lượng ký tự này không đủ để hiển thị cùng lúc nhiều kí tự của các ngôn ngữ khác nhau. Unicode ra đời nhằm thống nhất chung các kí tự của mọi ngôn ngữ trong một bảng mã duy nhất [2]. Unicode dùng 16 bit để biểu diễn các điểm mã, do đó nó có thể biểu diễn được đến 65,536 kí tự.

    Cách đơn giản nhất để mã hóa các kí tự Unicode là biểu diễn mỗi điểm mã bằng đúng một đơn vị mã 16-bit. Đây chính là cách mã hóa nguyên thủy của Unicode trong phiên bản 2.0 được ISO/IEC chuẩn hóa thành ISO/IEC 10646 hay còn gọi là UCS-2. Tuy nhiên, để tương thích với các hệ thống xử lí trước khi Unicode ra đời cũng như tối ưu hóa trong quá trình lưu trữ và truyền dữ liệu, người ta dùng các cách khác nhau để mã hóa các điểm mã thành các đơn vị mã. Mỗi cách mã hóa như vậy được gọi là một dạng biến đổi của Unicode (UTF – Unicode Transformation Format). Thông dụng nhất hiện nay là UTF-8 và UTF-16 dùng dãy các đơn vị mã có độ dài khác nhau để mã hóa các điểm mã. UTF-8 dùng 1 đến 4 đơn vị mã 8-bit trong khi UTF-16 dùng 1 đến 2 đơn vị mã 16-bit để mã hóa. Ví dụ sau minh họa cách mã hóa của UTF-8:

    - 128 kí tự đầu tiên của Unicode, từ điểm mã U+0000 đến U+007F, được mã hóa thành 1 byte.

    - Từ điểm mã U+0080 đến U+07FF, được mã hóa thành 2 byte.

    - Từ điểm mã U+0800 đến U+FFFF, được mã hóa thành 3 byte.

    Như vậy, khi đề cập đến Unicode trong lập trình cần phải xác định rõ chúng ta dùng bảng mã Unicode theo dạng biến đổi nào: UCS-2, UTF-8, hay UTF-16, … UCS-2 được dùng trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như SQL Server 7.0/2000, Microsoft Access 2000, UTF-8 thường được dùng trong các ứng dụng web, trong khi UTF-16 lại được dùng trong các hệ thống như Windows 2000/XP, Java, …

     

    Lập Trình Web Với Tiếng Việt Unicode

    Chỉ định bảng mã dùng trong trang web. Khi một trang web được server chuyển xuống cho client, trình duyệt sẽ dùng thông tin về bảng mã mà trang web đó sử dụng để chuyển dãy các byte trong tài liệu đó thành các kí tự tương ứng để hiển thị lên màn hình. Ngoài ra, một khi dữ liệu trong các FORM được gửi đi sau khi người dùng submit, trình duyệt cũng sẽ căn cứ vào bảng mã này để chuyển đổi dữ liệu khi truyền đi. Ví dụ, nếu trang web được chỉ định dùng bảng mã windows-1252 thì khi FORM được submit, dữ liệu sẽ được mã hóa theo bảng mã này cho dù trước đó trong các hộp điều khiển của FORM dữ liệu được gõ dưới dạng Unicode [3].

    Việc chỉ định bảng mã có vai trò rất quan trọng trong việc hiển thị đúng nội dung mà người thiết kế mong muốn, nếu không chỉ định bảng mã được dùng trong trang web hiện hành một cách rõ ràng, trình duyệt sẽ sử dụng bảng mã mặc định. Ví dụ, nếu dữ liệu chuyển đến cho trang web là E1 BB 81, bảng mã chỉ định là UTF-8 thì 3 byte này chính là biểu diễn mã của kí tự “ề” trong khi nếu hệ thống dùng bảng mã mặc định, ví dụ như windows-1252, thì 3 byte này lại được xem như là biểu diễn 3 kí tự khác nhau và sẽ được hiển thị là “á»o”.

    Để chỉ định bảng mã mà trang web sử dụng, ta dùng tag META với thuộc tính HTTP-EQUIV được gán là Content-Type, và chỉ định tên của bảng mã được dùng trong thuộc tính CONTENT (Thông tin về các bảng mã được dùng trên Windows có thể xem tại [4]). Trong ví dụ sau, tag META được dùng để chỉ định bảng mã windows-1252 cho một trang web: 

     

     

    Để yêu cầu trình duyệt sử dụng một bảng mã cho toàn bộ trang web, ta phải đặt tag META này trước tag BODY. Thông thường là đặt tag META này trong tag HEAD như ví dụ sau:

       …

     

    Trong trường hợp bảng mã được chỉ định không có khả năng biểu diễn được tất cả các kí tự của trang web, người ta phải dùng đến số tham chiếu của kí tự (NCR - numerical character references). Số tham chiếu kí tự là điểm mã của kí tự Unicode tương ứng mà nó biểu diễn. Số tham chiếu kí tự có hai dạng thập phân và thập lục phân. Dạng thập phân có cú pháp là “&#D;”, với D là số thập phân. Dạng thập lục phân có cú pháp là “&#xH;”, với H là số thập lục phân. Ví dụ: “å” và “å” là các số tham chiếu của kí tự “a” trong bảng mã Unicode. Một khi gặp số tham chiếu của kí tự, trình duyệt sẽ tham chiếu trực tiếp đến kí tự có điểm mã tương ứng trong bảng mã Unicode mà không sử dụng đến bảng mã được chỉ định hiện hành [5].

    Lấy ví dụ một trang web được mã hóa với bảng mã windows-1252, lúc đó để hiển thị chuỗi ký tự: “Tiếng Việt”, dữ liệu cho trang web phải là “Tiếng Việt” , trong đó “ế” và “ệ” lần lượt là các số tham chiếu của các kí tự “ế” và “ệ” trong bảng mã Unicode.

    Điều này cho phép giải thích tại sao, các trang web không dùng bảng mã UTF-8 vẫn có thể hiển thị được các kí tự Unicode không thuộc bảng mã đó hay khi chuyển đổi từ bảng mã UTF-8 sang windows-1252, MS FrontPage 2000 lại tự động thêm vào các số tham chiếu kí tự theo cách trên.

     

    Hoạt động của webserver

    Khi trình duyệt yêu cầu một trang .asp, trình xử lí trang asp tại webserver sẽ thông dịch các mã lệnh ở trong trang web này và gửi kết quả về cho trình duyệt. Thông thường, lệnh Response.Write được dùng cho các kết xuất từ các hằng chuỗi hay từ các biến ra màn hình. Ví dụ như:

     

    <%

    Response.Write “Chào mừng bạn đến với trang web này”  ‘in một hằng chuỗi

    Response.Write rs(“TEN_NV”)  ‘in dữ liệu của một biến, ví dụ như là một trường của recordset

    %>

     

    Để yêu cầu webserver mã hóa các dữ liệu trong các hằng chuỗi và biến theo bảng mã sẽ được dùng để hiển thị tại client, ta cần phải đặt thuộc tính CodePage về bảng mã tương ứng. Các lệnh trong ví dụ sau sẽ yêu cầu webserver mã hóa các chuỗi dữ liệu theo bảng mã UTF-8 (Thông tin về các codepage tương ứng với các bảng mã xem tại [4]):

     

    <%Session.CodePage=65001%>  // Dùng cho toàn bộ các trang trong Session hiện hành

    <%@CodePage=65001%>  // Dùng cho trang hiện hành

     

    Lấy ví dụ trong trường hợp dùng cơ sở dữ liệu SQL Server 7.0, dữ liệu được trả về từ các câu truy vấn theo bảng mã UCS-2. Nếu ta chỉ định CodePage là 65001, webserver sẽ tự động chuyển dữ liệu từ UCS-2 sang UTF-8, ngược lại nếu không chỉ định thuộc tính CodePage, webserver sẽ chuyển dữ liệu đó đến client theo bảng mã mặc định (ví dụ như windows-1252). Điều này giải thích cho trường hợp một số trang web asp hiển thị không đúng dữ liệu Unicode được lưu trong các cơ sở dữ liệu như SQL Server 7.0/2000, MS Access 2000.

    Ngoài ra, các trang asp có sử dụng đoạn mã lệnh thiết lập CodePage là 65001 phải được lưu theo định dạng tương ứng là UTF-8 [6].

    Như vậy, việc thiết lập thuộc tính CodePage trong trang asp sẽ giúp cho webserver hiểu được các dữ liệu được lưu trong các cơ sở dữ liệu, hằng chuỗi kí tự, … theo bảng mã nào để mã hóa (encode) nó trước khi chuyển đến cho trình duyệt. Việc chỉ định bảng mã dùng trong trang web bằng tag META sẽ giúp cho trình duyệt diễn dịch (decode) dữ liệu được chuyển đến từ webserver đúng nhất khi hiển thị [7].

     

    Các bước cơ bản của lập trình web asp sử dụng tiếng Việt Unicode

    -  Soạn và lưu trữ tập tin .asp dưới dạng mã hóa UTF-8.

    - Trong các tập tin asp, chèn các đoạn mã chỉ định cho web server và trình duyệt xử lí dữ liệu trong trang web như là UTF-8. Các đoạn mã này phải đặt ở đầu trang asp. Sử dụng ví dụ mẫu sau:

     

    <%@CODEPAGE=65001%>

    <%Session.Codepage=65001%>

     

     Sử dụng các hệl quản trị CSDL hỗ trợ Unicode như SQLServer 7.0/2000, MS Access 2000. Nếu dùng SQL Server thì phải khai báo kiểu dữ liệu cho các trường lưu dữ liệu Unicode là NCHAR, NVARCHAR, NTEXT,… Các kiểu dữ liệu như TEXT, MEMO, HYPER-LINK trong MS Access 2000 mặc định hỗ trợ lưu dữ liệu Unicode.

     Truy xuất cơ sởl dữ liệu thông qua JScript/VBScript/ODBC.

     Khi làm việcl trên hệ quản trị CSDL SQL Server 7.0/2000, nếu dùng các hằng chuỗi trong các câu lệnh SQL, phải thêm vào tiếp đầu ngữ N (bắt buộc là chữ in hoa) [8]. Nếu không sử dụng tiếp đầu ngữ này, SQL Server sẽ tự động chuyển chuỗi dữ liệu sang bảng mã mặc định hiện hành trước khi sử dụng nó trong các thao tác cập nhật CSDL. Ví dụ, nếu bạn dùng câu lệnh sau: INSERT INTO SINHVIEN(TEN_SV) VALUES(‘Trần Nam Hải’) thì hằng chuỗi dữ liệu ‘Trần Nam Hải’ sẽ được SQL Server xem như là chuỗi kí tự thường chứ không phải là chuỗi Unicode. Điều này sẽ dẫn đến hậu quả là dữ liệu sẽ được lưu trữ không chính xác. Ví dụ như dữ liệu của kí tự “ầ” trong chuỗi trên là E1 BA A7, sẽ được lưu thành 3 kí tự khác nhau. Trong khi đó nếu dùng câu lệnh INSERT INTO SINHVIEN(TEN_SV) VALUES(N‘Trần Nam Hải’)  thì 3 byte E1 BA A7 sẽ được lưu thành một kí tự [9].

     

    Hỗ Trợ Unicode Của Các Phần Mềm

    Các phần mềm hỗ trợ soạn thảo trang web

    - Visual Studio.NET, Notepad, MS FrontPage2002: Hỗ trợ lưu tập tin dưới dạng UTF-8

    - Visual InterDev 6.0: Nếu trong trang asp ta sử dụng các hằng chuỗi được gõ vào dưới dạng Unicode, ví dụ như: Response.Write 'Chào mừng bạn', thì lúc lưu tập tin chương trình sẽ phát hiện ra trong trang asp này có xuất hiện kí tự Unicode và yêu cầu lưu xuống dưới dạng Unicode, nếu không các kí tự Unicode sẽ bị mất. Tuy nhiên, nếu chọn lưu dưới dạng Unicode thì chương trình sẽ lưu tập tin này dưới dạng mã hóa UCS-2. Hiện nay webserver IIS không thể xử lí được trang asp này [10]. Do đó không nên dùng Visual InterDev 6.0 để soạn thảo các trang asp trong các ứng dụng Unicode tiếng Việt.

    - Các phần mềm thông dụng hỗ trợ gõ tiếng Việt Unicode: UniKey, VietKey.

     

    Các phần mềm hệ thống khác

    - SQL Server 7.0/2000 và MS Access 2000 hỗ trợ Unicode. Với mỗi kí tự Unicode, hệ thống sẽ sử dụng bảng mã UCS-2 để lưu trữ, nghĩa là dùng cố định 2 byte cho một kí tự. SQL 6.5 và MS Access 97 không hỗ trợ Unicode.

    - IIS 5.0 không thể đọc được các tập tin lưu dưới dạng UCS-2 [10], không hỗ trợ CodePage của bảng mã UTF-16 là 1200 [11]. IIS 4.0 không hỗ trợ CodePage của bảng mã UTF-8 là 65001[11].

    Tài liệu trích dẫn

    [1] http://www.microsoft.com/globaldev/articles/unicode.asp

    [2] http://www.unicode.org/unicode/standard/principles.html

    [3] http://support.microsoft.com/default.aspx?scid=kb;en-us;Q303612

    [4] http://msdn.microsoft.com/library/default.asp?url=/workshop/author/dhtml/reference/

         charsets/charset4.asp

    [5] http://www.w3.org/TR/html401/charset.html#code-position

    [6] http://support.microsoft.com/default.aspx?scid=KB;EN-US;Q295063&

    [7]http://msdn.microsoft.com/library/default.asp?url=/library/en-us/iisref/html/psdk/asp/vbob150l.asp 

    [8] http://support.microsoft.com/default.aspx?scid=kb;en-us;Q239530

    [9] http://support.microsoft.com/default.aspx?scid=kb;en-us;q232580

    [10]http://support.microsoft.com/default.aspx?scid=kb;en-us;Q245000

    [11] http://support.microsoft.com/default.aspx?scid=kb;[LN];Q254313

    Lê Đình Duy

    E-mail: duyld@yahoo.com

    ID: A0210_98
    Ý kiến của bạn? Ý kiến của bạn?
    Tin ngày :