• Thứ Ba, 16/12/2003 15:35 (GMT+7)

    35 công nghệ định hình ngành công nghiệp máy tính


    Từ chiếc máy tính dùng đèn chân không đến ngành công nghiệp máy tính hiện đại là cả một chặng đường dài với nhiều sáng chế công nghệ. Chúng ta hãy cùng nhìn lại lịch sử những công nghệ then chốt.

    1. RAM động
    Bạn chỉ có thể xử lý thông tin khi lưu trữ và làm cho nó sẵn sàng với máy tính. Trước khi có RAM động hay DRAM, bộ lưu trữ không đáng tin cậy (với đèn chân không), rất chậm (thẻ đục lỗ, băng từ) và quá đắt. 

    Năm 1966, Robert Dennard của IBM đã tìm ra cách lưu một bit nhớ bằng cách tích điện cho một tụ điện trong một transistor cực nhỏ. Được cấp bằng sáng chế vào năm 1968, đây là cơ sở để năm 1970 Intel đưa ra chip nhớ 1K bit có kích thước 10mm vuông với giá 21USD. Chip nhớ được chế tạo ngày càng nhanh hơn và rẻ hơn, và tới khoảng giữa thập niên 70, DRAM trở thành chuẩn cho hầu hết các máy tính.

    2. Giao diện người dùng đồ họa
    Ban đầu, chương trình và dữ liệu được đưa vào máy tính bằng cách nhập từng dòng trên thẻ đục lỗ hay băng từ và thực thi với các mã lệnh đặc trưng cho tổ hợp phần cứng và phần mềm. Năm 1973, các nhà khoa học ở trung tâm nghiên cứu Palo Alto (PARC) thuộc hãng Xerox đã làm bước đột phá đầu tiên với máy tính Alto. Chiếc máy này có đủ các yếu tố mà ngày nay chúng ta gọi là giao diện người dùng đồ họa hay GUI (Graphical User Interface): cửa sổ và biểu tượng đồ họa, di chuyển bằng chuột có nút bấm.

    Một hậu duệ của Alto Xerox Star trở thành sản phẩm thương mại vào năm 1981. Steve Jobs rất thích ý tưởng này và đã “mượn” dùng cho các sản phẩm Apple Macintosh và Lisa. Tới năm 1990, Microsoft tham gia vào câu lạc bộ GUI với Windows 3.0 và giờ đây Windows là chuẩn giao diện máy tính phổ biến. Dạng dòng lệnh xưa vẫn còn được dùng, nhưng đa phần người dùng và các tác vụ trên máy tính đều sử dụng Windows.

     

    3. Nối mạng
    Các máy tính trở nên mạnh hơn rất nhiều khi được nối lại với nhau. Vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20 đã có một số máy tính được nối với nhau, nhưng việc kết nối thực sự ở diện rộng đầu tiên được ghi nhận là vào năm 1969 với mạng Arpanet của cơ quan nghiên cứu cao cấp thuộc Bộ Quốc Phòng Mỹ. Đóng góp quan trọng thực sự của Arpanet chính là sự nhìn nhận máy tính ngoài khả năng tính toán tốc độ cao còn là phương tiện liên lạc của con người.  Một trong những người tiên phong của Arpanet, David Clark thuộc viện công nghệ MIT, đúc kết: “Mạng không chỉ nối máy tính lại với nhau, còn hơn thế, thông qua máy tính, chúng nối kết con người. Thành quả to lớn của internet không phải là kỹ thuật mà là sự tác động lên con người”.

     

    4.Vi xử lý
    Vào thập niên 60 của thế kỷ 20, máy tính rất cồng kềnh, đắt tiền và chỉ được dùng trong các phòng thí nghiệm lớn. Vi xử lý đã làm thay đổi điều đó.
    Mọi chuyện bắt đầu khi các hãng máy tính tay Nhật đặt hàng Intel thiết kế một bộ chip gồm 12 con với các tính năng riêng. Kỹ sư Ted Hoff của Intel đã nảy ra ý tưởng thiết kế một con chip đa năng với các chỉ thị lệnh ghi trong bộ nhớ cố định. Chip này, được gọi là CPU – bộ xử lý trung tâm, có thể dùng cho nhiều ứng dụng khác nhau mà không cần phải thiết kế lại. Năm 1971, Intel đưa ra chip 4004 có chứa 2.250 transistor. Con chip giá 200USD này có khả năng tính toán tương đương với chiếc máy tính dùng 18.000 bóng đèn chân không, chiếm diện tích gần 1000 m3. Các CPU Pentium 4 hiện nay chứa 55 triệu transistor chỉ trên một mẩu silicon khoảng 5 cm vuông, và gần như tất cả máy tính hiện nay đều dùng vi xử lý.

     

    5.Bảng tính điện tử  
    Năm 1978, hai sinh viên của trường Havard Business School là Dan Bricklin và Robert Frankston, mệt mỏi với việc tính toán hàng đống con số trên giấy và việc tẩy xóa không thể tránh khỏi. Để việc làm bài tập được dễ dàng, họ đã dùng chiếc máy tính Apple-II và xây dựng VisiCalc, một chương trình bảng tính có thể tự tính toán. Sức mạnh của VisiCalc và bí mật ẩn sau sự ảnh hưởng lâu dài của nó chính là ở chỗ nó cho phép người dùng không phải là lập trình viên sử dụng máy tính để giải quyết những công việc thực tế, ví dụ như lập ngân sách chi tiêu. VisiCalc có thể làm được những việc mà các dàn máy tính lớn không thể làm: đưa vào dữ liệu số và lập tức nhìn thấy tác động trên những số khác. Sau đó, Lotus 1-2-3 với tốc độ nhanh hơn, các tính năng quản lý tập tin và khả năng thể hiện dữ liệu trực quan bằng đồ thị đã thúc đẩy sự tiến bộ của công nghệ.
    Bảng tính điện tử được coi là ứng dụng quan trọng đầu tiên làm thay đổi nhận thức xem máy tính chỉ là đồ chơi đối với các công cụ nghiệp vụ chính thống.

     

    6. Unix

    Được tạo ra năm 1969 ở AT&T Bell Lab để giúp việc thực hiện ứng dụng dễ dàng hơn, hệ điều hành Unix ban đầu được sử dụng ở các trường đại học, nơi có thể cấp phép mã nguồn miễn phí. Sau đó nó được dùng cho các máy chủ cộng tác, doanh nghiệp nhỏ và rồi trở thành nền tảng chính cho internet.  

     

    7. Phần mềm thương mại

    Trước năm 1969, phần cứng và phần mềm được bán chung. Bạn chỉ có thể mua phần mềm từ hãng bán phần cứng hoặc tự viết lấy. Để đối phó với đạo luật chống độc quyền, năm 1969, IBM đã tách các dòng sản phẩm của mình, giảm giá phần cứng 3% và mở ra ngành công nghiệp phần mềm thương mại.

     

    8. Ngôn ngữ đánh dấu tổng quát GML

    GML, tiền thân của HTML và XML, được tạo ra năm 1969 từ một ý tưởng đơn giản: tách biệt nội dung với định dạng, và cho phép dễ dàng tìm thông tin trong các tài liệu số. Công khai phá thuộc về IBM. Hiện chẳng có ai dùng GML, nhưng những hậu duệ của nó có vai trò trọng yếu trong nền CNTT hiện đại.

     

    9. Cơ sở dữ liệu quan hệ

    Ted Codd, nhà nghiên cứu của IBM, đưa ra định nghĩa mô hình quan hệ của CSDL năm 1969. Dựa trên khái niệm này và ngôn ngữ truy vấn của nó, năm 1979, Oracle đưa ra hệ CSDL quan hệ SQL đầu tiên.

     

    10. Nối mạng không dây

    Năm 1971, mạng LAN không dây (WLAN) đầu tiên dùng sóng vô tuyến được thiết lập tại trường đại học Hawaii. Tuy nhiên, công nghệ không dây phát triển khá chật vật cho đến khi chuẩn IEEE 802.1 được đưa ra vào năm 1997. Dù có những vấn đề về bảo mật, WLAN hiện đang xâm nhập mạnh mẽ vào môi trường công sở, gia đình và công cộng.

     

    11. E-mail
    Thư tín điện tử trên các dàn máy tính lớn đã được dùng từ thập niên 60 của thế kỷ 20, nhưng phải đến năm 1972 nó mới trở thành công cụ làm việc cộng tác hữu hiệu kết nối các nhà nghiên cứu trên mạng Arpanet, tiền thân của internet.

     

    12. Đĩa Winchester
    Đĩa cứng đầu tiên xuất hiện vào thập niên 50 của thế kỷ 20. Năm 1973, các kỹ sư của IBM đưa ra thiết kế mới với các đầu đọc/ghi nhẹ “bay” trên bề mặt của đĩa. Công nghệ này, hiện vẫn được biết đến với tên mã ban đầu của nó, đã làm giảm giá đĩa cứng xuống rất nhiều và trở thành chuẩn đĩa cứng suốt hai thập niên.

     

    13. Chuẩn mã hóa dữ liệu
    Chuẩn công nghiệp đầu tiên về mã hóa, Data Encryption Standard (DES), do IBM phát triển và được Ủy Ban Chuẩn Quốc Gia của Mỹ phê chuẩn năm 1975. DES được áp dụng trong việc gửi thông tin mã hóa bằng điện tử, mở đường cho thương mại điện tử và các mạng riêng ảo.

     

    14. Ethernet
    Được Bob Metcalfe của hãng Xerox phát triển vào những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ 20, ethernet là chuẩn mạng cục bộ (LAN) đầu tiên được thiết kế để nối mạng dễ dàng hàng trăm máy tính và máy in. Nó nhanh chóng vượt qua các chuẩn khác và hiện thống trị các mạng LAN trên thế giới, từ tốc độ ban đầu 2,94 Mbit/s đến nay đã lên đến 10G bit/s.

     

    15. Máy tính cá nhân IBM
    Được giới thiệu vào năm 1981, kiến trúc phần cứng mở của IBM model 5150 chấp nhận các thành phần gắn thêm của hãng thứ ba, và thiết kế đơn giản này – được tạo ra trong thời gian không tới một năm - dễ dàng cho các đối thủ bắt chước. Ngành công nghiệp máy tính được hình thành.

     

    16. Máy tính xách tay
    Chiếc máy tính đầu tiên “có thể mang đi được” ra đời vào năm 1981, cân nặng 10,8 kg, màn hình 5 inch, tác giả là Adam Osborne. Sau đó, máy tính xách tay ngày càng nhỏ hơn và nhẹ hơn, cho đến những chiếc laptop gọn nhẹ ngày nay là biểu hiện của sự năng động và hiệu quả.

     

    17. NetWare
    Năm 1982, Novell giới thiệu hệ điều hành mạng nhanh, tin cậy và có thể kiểm soát 250 người dùng trên một máy chủ. Nó là mạng đầu tiên đáp ứng được nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp. NetWare trở thành chuẩn cho công sở trước khi bị Windows NT Server thay thế.

     

    18. Máy in laser
    Năm 1969, Gary Starkweather của Xerox kết hợp kỹ thuật photocopy với tạo ảnh bằng laser sáng chế ra loại máy in nhanh và có độ phân giải cao (và rất đắt) dùng cho máy tính. Nhưng chính Hewlett-Packard mới là công ty đưa ra chiếc máy in LaserJet có mức giá vừa phải vào năm 1984, tốc độ và chất lượng ảnh in bằng máy tính được nâng lên và  chế bản văn phòng trở thành hiện thực.

     

    19. Lotus Notes
    Năm 1989, Ray Ozzie phác thảo về phần mềm cộng tác kết hợp việc gửi thông điệp nhóm, thảo luận trực tuyến, lịch công việc nhóm, sổ điện thoại, cơ sở dữ liệu tài liệu, các dạng biểu và tiến trình công việc với môi trường phát triển mạnh. Và “groupware” (phần mềm làm việc nhóm) trở thành hiện thực. 

     

    20. Bộ Office

    Các gói phần mềm 'tất cả trong một' không được xem là đối thủ ngang tầm với các phần mềm bảng tính và xử lý văn bản chuyên biệt cho đến năm 1990, khi Microsoft đóng gói chung các ứng dụng văn phòng hàng đầu của mình. Microsoft Office nhanh chóng thiết lập một chuẩn mới. Nhờ tích hợp tốt hơn các thành phần chương trình và sự tiếp thị năng nổ tới người dùng nghiệp vụ, Microsoft đã chôn vùi những sản phẩm hàng đầu trước đó như Word Perfect, Lotus 1-2-3 và dBase.

     

    21. Microsoft Windows 3.0

    Phải mất 5 năm kể từ khi giới thiệu Windows 1.0 vào năm 1985, Microsoft mới đạt được hệ điều hành GUI đúng nghĩa. Năm 1990 Microsoft bắt đầu cung cấp Windows 3.0 cho số lượng lớn PC. Những công cụ phát triển mới cho phép “viết” phần mềm đồ họa sử dụng nhiều hơn 640KB bộ nhớ của DOS. 5 năm sau, khách hàng xếp hàng ở các cửa hàng máy tính vào nửa đêm để chờ mua phiên bản Windows 95.

     

    22. Windows NT
    Khởi thuỷ đây là một phiên bản mới của OS/2, sự hợp tác đầy sóng gió của Microsoft với IBM. Thế nhưng khi Windows NT ra đời vào năm 1993, hệ điều hành máy chủ rất mạnh này chính là vũ khí của Microsoft để cạnh tranh với IBM, Novell và Unix. Với giá thấp, NT cuối cùng đã đè bẹp NetWare, ép nhiều hãng cung cấp Unix chuyển sang NT và trở thành nền tảng chính cho môi trường công sở.

     

    23. World Wide Web
    Ban đầu chỉ là một dự án của cơ quan nghiên cứu CERN ở Thụy Sĩ cho đến năm 1993, trình duyệt Mosaic có giao diện đồ họa thân thiện của Marc Andreessen đã định hình web như chúng ta thấy hiện nay. Được xây dựng trên nền internet, web với giao thức Hypertext Transfer Protocol (http), nhanh chóng trở thành phương tiện thể hiện thông tin chính trên mạng và được dùng để chuyển tải mọi thứ từ thương mại điện tử đến văn phòng không giấy.

     

    24. Java
    Năm 1995 không hẳn thế giới cần thiết phải có một ngôn ngữ lập trình khác, tuy nhiên ngôn ngữ Java hướng đối tượng, gọn nhẹ của Sun Microsystems tỏ ra rất thích hợp cho các chương trình nhỏ có thể truyền đi trên internet như là một phần của trang web. Java được xem là một sự thay thế tốt hơn cho C++ trong các ứng dụng phía server (máy chủ) và là mô hình cho ngôn ngữ C# của Microsoft.

     

    25. PDA – trợ lý số
    Năm 1993, Apple đưa ra thiết bị có tên là Newton và thất bại. Năm 1996, thiết bị Palm đơn giản hơn, đủ nhỏ và đủ mạnh để có thể dùng được. Với sự bổ sung thêm kết nối không dây, máy tính cầm tay đồng nghĩa với dữ liệu cộng tác luôn sẵn sàng hầu như ở mọi nơi.

     

    Hoàn tất danh sách 35 công nghệ then chốt
    Cuối cùng, danh sách của chúng ta không thể hoàn tất mà không điểm qua 10 công nghệ sau:

     
    26. CICS
    Customer Information Control System (hệ thống kiểm soát thông tin người dùng) của IBM được phát triển năm 1968 và hiện vẫn là phần mềm xử lý giao dịch trên máy tính lớn quan trọng nhất.

     

    27. Thiết bị lưu trữ tháo lắp
    Chiếc đĩa mềm 400KB, 8 inch do IBM đưa ra năm 1971 là tiền thân của tất cả các thiết bị lưu trữ tháo lắp, của cả các thẻ nhớ flash và đĩa DVD dung lượng hàng gigabyte.

     

    28. Trình xử lý văn bản
    Wang Laboratories Inc. đã tạo ra trình xử lý văn bản điện tử đầu tiên vào năm 1971. Trong thập niên sau, máy tính để bàn chạy phần mềm xử lý văn bản, và 20 năm tiếp theo, máy đánh chữ dần biến mất.

     

    29. Mã vạch
    Quét mã vạch trở thành hiện thực vào năm 1973 với việc chuẩn hóa bộ mã Universal Product Code của IBM, bắt đầu một cuộc cách mạng trong sản xuất và kinh doanh, cho phép kiểm kê hàng hóa nhanh chóng và dễ dàng.

     

    30. Modem giá rẻ
    Các modem của AT&T đã được dùng từ năm 1963, tuy nhiên phải đến năm 1979 việc truyền thông dùng kết nối quay số mới trở nên thông dụng với Micromodem 100 giá thấp của Hayes Microcomputer Products. Tập lệnh “AT” của Hayes trở thành chuẩn và làm hiện thực việc liên lạc từ xa.  

     

    31. PC nhái của Compaq
    Sau khi IBM đưa ra PC của mình, năm 1983, Compaq đã tạo ra chiếc máy tính nhái đầu tiên có thể chạy tất cả phần mềm của IBM PC, và ngành công nghiệp máy tính được khai sinh.

     

    32. Linux
    Hệ điều hành nhái theo Unix của Linus Torvalds năm 1991 đem đến cho phần mềm mã nguồn mở một sức mạnh được nhìn nhận. Hiện được dùng cho các ứng dụng máy chủ trung tâm từ web server đến internet firewall, Linux ngày càng đáp ứng cho nhiều ứng dụng quan trọng.

     

    33. Định dạng tài tiệu trao đổi PDF (Portable Document Format)

    Do Adobe System Inc. đưa ra năm 1993, định dạng tài liệu điện tử này giải quyết vấn đề định dạng phức tạp cho nhiều nền tảng hệ thống.

     

    34. SAN

    Tách phần lưu trữ ra khỏi các máy chủ riêng lẻ, SAN (Storage Area Network – mạng không gian lưu trữ) kết hợp tốc độ của thiết bị lưu trữ dùng công nghệ Fibre Channel với việc phân luồng thông minh trên mạng. Được phát triển khoảng giữa thập niên 90 của thế kỷ 20, SAN cho phép máy chủ bất kỳ truy cập trực tiếp tới khối dữ liệu bất kỳ.

     

    35. Hội tụ đa phương tiện
    Thông tin không chỉ là chữ và các con số, máy tính ngày càng được dùng nhiều để xử lý hình ảnh, video, âm thanh và liên lạc điện thoại…

    Computerworld 30/09/2002

    ID: A0301_49