• Thứ Tư, 17/12/2003 09:36 (GMT+7)

    2002 – Chặng đường nhìn lại


    Chúng ta sẽ cùng điểm lại những tiến bộ công nghệ quan trọng trong năm 2002 được coi là bàn đạp cho CNTT tiến vào năm 2003. Đó là mạng không dây phủ khắp nơi; phi tập trung hóa và ứng dụng phi tập trung hóa lên ngôi; các dịch vụ web và XML đang dần thâm nhập vào môi trường xí nghiệp, tác động đến mọi mặt từ kế hoạch tích hợp CNTT đến chiến lược của các nhà cung ứng giải pháp tích hợp ứng dụng. Trong khi đó, mã nguồn mở và các chuẩn mở thay đổi cách nhìn của các nhà lãnh đạo CNTT về cơ sở hạ tầng, và quan niệm về ảo hóa thâm nhập vào ngành công nghiệp lưu trữ và thu hút nhiều lĩnh vực khác.


    Mạng không dây

    Công nghệ không dây len lỏi vào môi trường xí nghiệp là bước tiến quan trọng trong năm 2002. Quan niệm về máy tính mở rộng ra với các thiết bị cầm tay, mạng không dây; cơ sở hạ tầng di động và chuẩn di động sinh sôi nảy nở.

    Về phương diện cơ sở hạ tầng, các hãng BEA, IBM, Microsoft và Sun Microsystems đưa ra nhiều công nghệ giải quyết vấn đề chi phí xí nghiệp ngày càng lớn. Việc kết nối thiết bị di động với dịch vụ dữ liệu trở nên khả thi nhờ công nghệ WebLogic 7.0 và máy chủ dịch vụ web của BEA. WebSphere Everyplace Access của IBM đã có những cải tiến đáng kể, hứa hẹn ứng dụng trên thiết bị cầm tay có thể bắt kịp ứng dụng trên máy tính để bàn. Microsoft đưa ra .Net Compact Framework và Visual Studio .Net, cung cấp nền dịch vụ web chung để phát triển ứng dụng cho mọi thiết bị.
    Open Mobile Alliance (OMA) đã có một năm thành công, đầu tiên là Sun, sau đó Microsoft cũng tham gia. J2EE, J2ME và .Net hiện được xem là các chuẩn phát triển ứng dụng di động. Tại hội chợ Comdex diễn ra vào tháng 11/2002, OMA công bố trở thành tổ chức về chuẩn và đưa ra 8 chuẩn không dây đầu tiên.
    Với nhiều kế hoạch triển khai trên diện rộng, mạng LAN không dây (WLAN) đã tự khẳng định mình trong năm 2002. IEEE đã thông qua chuẩn bảo mật mới 802.1x, miếng vá cho WEP (Wired Equivalency Protocol) nhiều kẽ hở trước đây. Microsoft, Intel và Cisco đã nhanh chóng triển khai chuẩn này trên các sản phẩm của mình.
    Sự xuất hiện chuẩn 10GbE (10 Gigabit Ethernet) cũng là cột mốc quan trọng trong năm 2002. Sau 3 năm nghiên cứu, chuẩn này ra đời cùng với các bộ chuyển mạch LAN và WAN và thiết bị kiểm tra 10GbE. Cuối cùng thì PC để bàn cũng có đủ băng thông để tạo các ứng dụng video thuận tiện và hữu dụng. 10GbE cũng đang nhanh chóng trở thành chuẩn cho mạng nội thị. Cho đến 4 năm tới, chúng ta sẽ còn nghe nói nhiều về những ích lợi mà công nghệ 10GbE đem lại.
    Với Gigabit Ethernet, mạng có dây vẫn có một tương lai dài. Tuy nhiên, mạng không dây và thiết bị cầm tay mới chính là những thứ tạo nên bức tranh hấp dẫn về môi trường điện toán mọi lúc mọi nơi.  

    Mã nguồn mở, chuẩn mở

    Tuy công nghệ nguồn mở chưa cạnh tranh nổi công nghệ nguồn đóng trong năm 2002, nhưng các giám đốc công nghệ (CTO - Chief Technical Officer) đã bắt đầu chú ý đến tiềm năng của mã nguồn mở; tập trung vào Linux và chuẩn mở của dịch vụ web.

    Linux khởi đầu năm 2002 bằng hội chợ LinuxWorld Conference & Expo hằng năm tại New York. Carly Fiorina, chủ tịch và giám đốc điều hành Hewlett-Packard, hứa hẹn sẽ hỗ trợ mạnh mẽ cho Linux và các công nghệ nguồn mở khác; IBM công bố Raptor, máy tính lớn chỉ dành cho Linux đầu tiên; và Computer Associates đưa ra hơn 20 sản phẩm cho doanh nghiệp hỗ trợ HĐH mã nguồn mở này.
    Sun tiếp tục rượt đuổi IBM bằng cách đưa ra chiến lược Linux sát thực tế với giá  cạnh tranh hơn. Ngay đầu năm 2002, Sun giới thiệu bản thảo iPlanet Application Server cho Linux.

    Tổ chức Web Services Interoperability Organization (vừa thành lập) tạo nên nguồn động lực mới với mục tiêu thúc đẩy chuẩn phát triển trên nền tảng chính gồm XML, SOAP, UDDI và WSDL.

    Tổ chức này hiện có hơn 100 hãng hỗ trợ, trong đó có các hãng tên tuổi như IBM, Microsoft, HP và Intel nhưng vẫn chưa thuyết phục được Sun tham gia vì một số lí do. Tuy nhiên Sun có thể tham gia với tư cách là thành viên trong ban quản trị thông qua bầu cử đầu năm 2003.

    Đầu năm 2002, một quan chức cao cấp của IBM dự đoán mã nguồn mở và chuẩn mở được chấp nhận rộng rãi có thể sẽ dẫn đến một mạng nguồn mở, định hình cho nhiều chiến lược CNTT về sau. Cuối năm 2002, IBM đưa ra sáng kiến On Demand Computing, một kiến trúc công nghệ và chiến lược tự động.

    Không thua kém, HP và Sun cũng đã đưa ra sáng kiến tính toán hiệu quả (utility computing) và các chiến lược N1. Tới cuối năm 2002, HP được đánh giá hơn hẳn hai đối thủ của mình trong lĩnh vực tính toán hiệu quả, còn Sun trội lên trong lĩnh vực  ảo hóa và khả năng quản lí của N1.

    Phần mềm nguồn mở thâm nhập vào cả công ty nhỏ lẫn lớn. Chuẩn mở đang dần phát triển và hoàn thiện; vượt qua những hoài nghi về khả năng thành công khi áp dụng chúng vào ứng dụng lớn, quan trọng.

    Cộng đồng chuẩn đang “ngắm nghía” khả năng cấp bằng sáng chế trong lĩnh vực mở. Tổ chức W3C vừa từ bỏ chính sách kìm hãm bằng sáng chế đối với công nghệ nguồn mở. Tuy nhiên, W3C và các nhóm chuẩn khác vẫn chưa ngã ngũ về vấn đề sở hữu trí tuệ
    .


    Dịch vụ Web, Xml, soap
    Trong năm 2002, các dịch vụ web rẽ thành hai nhánh: phát triển các công cụ để mở rộng thêm chức năng của dịch vụ web và chuẩn hóa nền hệ thống phục vụ dịch vụ web. Việc triển khai dịch vụ web hiện vẫn được xem như mới ở giai đoạn “chập chững”.

    Google và Macromedia đưa ra các công nghệ làm cho dịch vụ web trở nên thân thiện hơn. Qua Google Web API (dùng SOAP và WSDL), nhà phát triển   có thể truy xuất đến hơn 2 tỉ tài liệu web do cơ chế tìm kiếm của Google quản lý. ColdFusion MX của Macromedia chuyển  từ máy chủ ứng dụng mã nguồn đóng sang  máy chủ ứng dụng J2EE và hỗ trợ phát triển các ứng dụng và dịch vụ web dễ dàng hơn.

    Trong năm 2002, IBM, Microsoft và BEA Systems, thành viên trong tổ chức BPEL4WS (Business Process Execution Language For Web Services), đã đưa ra nhiều đề xuất cho tính tương tác giữa các dịch vụ web. Sun Microsystems cũng đưa ra đề xuất WSCI (Web Services Choreography Interface) và được BEA ủng hộ.

    Trong năm 2002, dịch vụ web đạt được một bước tiến qua trọng về bảo mật. Tháng 7/2002, tại hội nghị Burton Group Catalyst Conference ở San Francisco, nhiều nhà cung ứng sản phẩm minh họa việc trao đổi dữ liệu xác thực dùng SAML (Security Assert Markup Language), chuẩn này được tổ chức OASIS (Organization for the Advancement of Structured Information Standards) thông qua vào tháng 11. SAML cùng với WS-Security (một chuẩn bảo mật khác do IBM và Microsoft đưa ra) và các mô đun liên quan khác như XML Signature và XML Encryption định nên kiến trúc dịch vụ web.

    Tháng 11/2002, W3C đã đưa ra bản dự thảo đầu tiên với tiêu đề “Kiến Trúc Dịch Vụ Web
    ”.
    Đối với các nhà cung cấp ứng dụng xí nghiệp, 2002 là năm phải dè chừng mối đe dọa từ các dịch vụ web. Với các dịch vụ web, xí nghiệp có thể dựng nên hệ thống ứng dụng dễ dàng bằng cách dùng dịch vụ cung cấp sẵn, giảm bớt nhu cầu tích hợp nội bộ. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề phải giải quyết như phân luồng, trao đổi thông tin, gọi thủ tục từ xa, kiểu định dạng, giao thức, lược đồ định địa chỉ trên web...


     Ảo Hóa

    Một trong những công nghệ được quảng cáo rầm rộ trong năm 2002 là ảo hóa. Mặc dù được nói đến rất nhiều trong 5 năm qua nhưng trong năm 2003 này ảo hóa sẽ trở nên quan trọng. Ảo hoá tạo nên một hệ thống logic chung nhất từ các hệ thống và thành phần vật lí riêng rẽ.
    Lưu trữ là lĩnh vực đầu tiên thu lợi từ công nghệ này. Lợi thế của ảo hóa lưu trữ là có được một nền đơn nhất để quản lí, truy cập và cung cấp lưu trữ, bất kể nhà cung cấp.
    EMC, Hitachi Data Systems, Sun Microsystems và IBM đang tiếp thị các công nghệ ảo hóa với các mảng lưu trữ, và những gì họ làm trong năm 2002 đã cho thấy ảo hóa có thể hoạt động trên các hệ thống không đồng nhất.
    Khái niệm ảo hóa cũng đã thâm nhập vào lĩnh vực mạng, đặc biệt là trong trung tâm dữ liệu. Infinicon Systems và Topspin Communication đã đem ảo hóa vào các trung tâm dữ liệu bằng cách dùng các máy chủ là hệ thống chia sẻ có đủ nguồn tài nguyên tính toán để hỗ trợ và chia sẻ cho nhau.

    Ảo hóa lưu trữ đã có nhiều tiến bộ  trong năm 2002, nhưng chưa phải là tốt nhất. Nhiều nhà cung ứng cố gắng đưa ra chiến lược và giải pháp nhưng quan điểm về ảo hóa lưu trữ vẫn còn mơ hồ. Tới nay vẫn chưa có được định nghĩa rõ ràng và thống nhất về ảo hoá lưu trữ.

    Ảo hóa lưu trữ giúp giảm chi phí, tận dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và thu hồi vốn nhanh nhưng không phải là thứ thuốc chữa bách bệnh. Một hệ thống ảo hóa lưu trữ tốt nhất vẫn cần đến chính sách quản trị lưu trữ tốt. Ảo hóa lưu trữ kết hợp chặt chẽ với việc quản lí
    .

    Được xem là giải pháp tiết kiệm khá ấn tượng, phần cứng lưu trữ sẽ dần dần mở rộng thị trường mục tiêu của mình từ các công ty hàng đầu đến các xí nghiệp cỡ trung và nhỏ, tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các giải pháp lưu trữ quản lí/ ảo hóa và với các giải pháp phần mềm
    .
    Một điểm tích cực khác đó là các nhà cung ứng cuối cùng đã chấp nhận chuẩn CIM (Common Information Model), chuẩn này tạo tiếng nói chung cho các thiết bị lưu trữ, bất kể các thiết bị này đến từ nhà sản xuất nào.
    Dần dần, quan niệm lưu trữ ảo hóa sẽ được ứng dụng chính xác hơn cho các thành phần chuyên biệt, giải quyết các vấn đề về lưu trữ như băng ảo, đường dẫn ảo hay khối ảo.
    Làm cho những khái niệm ảo trên trở nên rõ ràng, dễ hiểu có thể là một trong những thành tựu quan trọng trong năm 2003.

     

    Phi tập trung hóa

    Trong năm 2002, phi tập trung hóa (edge computing) phát triển trong môi trường xí nghiệp, hỗ trợ đắc lực cho hệ thống tập trung hóa.
    Với nhiều người dùng cuối, mọi phần cứng trong phòng máy chủ đều vô nghĩa khi không có thiết bị biên để giao tiếp. Trong môi trường B2B (doanh nghiệp với doanh nghiệp), vấn đề làm thế nào để đưa ra dữ liệu và các tiến trình nghiệp vụ một cách tốt nhất vẫn là chuyện phức tạp đối với hầu hết các công ty. Mấu chốt của vấn đề là chỉnh sửa lại các ứng dụng để đẩy các tiến trình nghiệp vụ ra lớp biên. Tại lớp biên này, công ty dễ dàng thay đổi các tiến trình nghiệp vụ tuỳ theo tình huống
    Theo giám đốc nghiên cứu của Aberdeen Group (Mỹ), “Giờ đây, mọi người nhận ra rằng nếu đi quá xa theo một hướng nào đó thì sẽ không có lợi. Điều nhạy cảm ở đây là áp dụng đúng mức việc tập trung hóa và phi tập trung hóa tùy vào hoạt động kinh doanh”.

    Microsoft hợp tác với nhà cung ứng Groove Networks để thống nhất SharePoint Team Services và công nghệ Workspace của Groove, cho phép người dùng điều khiển tập trung việc chia sẻ tập tin, thảo luận và cộng tác tài liệu theo mô hình phi tập trung và an toàn, mô hình này đẩy lôgic ứng dụng và nghiệp vụ ra mạng biên.
    Các thiết bị vùng biên hiện nay có nhiều khả năng hơn trước đây. Phần mềm hiện cũng đang phát triển nhanh chóng để dẫn dắt tương lai của lĩnh vực tính toán phi tập trung.

    InfoWorld 16/12/2002

     

     

     

    ID: A0303_54