• Thứ Năm, 31/07/2008 12:48 (GMT+7)

    Phát triển CNTT TP.HCM đến 2010

    Chương trình phát triển CNTT-truyền thông TP.HCM giai đoạn 2007 – 2010 nhắm đến mục tiêu đưa TP.HCM thành trung tâm CNTT-TT của cả nước và khu vực; hình thành, xây dựng và phát triển thành phố điện tử đạt trình độ trung bình khá trong khu vực với chính quyền điện tử, doanh nghiệp điện tử, công dân điện tử, đẩy mạnh giao dịch và thương mại điện tử.

    Dưới đây là ý kiến của các chuyên gia CNTT hướng đến việc làm thế nào để đạt các mục tiêu đặt ra nói trên.

    Ông Lê Mạnh Hà - giám đốc sở BCVT TP.HCM
    Hoàn thiện môi trường pháp lý
    TP đã phê duyệt chương trình phát triển CNTT-TT, trong đó, nhiệm vụ quan trọng là xây dựng DN điện tử nằm chung trong đề án thành phố điện tử. Trong khi đó, quy hoạch phát triển ngành, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam về CNTT-TT thì mới được ban hành (lúc đó là bộ BCVT ban hành). Sở BCVT (nay là sở TTTT) đã quy hoạch phát triển các khu công nghệ tập trung, quy hoạch phát triển hệ thống ngầm, hệ thống cáp viễn thông. Mục tiêu trong việc phát triển CNTT của TP.HCM là: phát triển TP.HCM thành một thành phố điện tử với mức phát triển thuộc trung bình khá của khu vực. Cụ thể, chúng ta phải có doanh nghiệp (DN) điện tử, công dân điện tử. Riêng công dân điện tử dễ phát triển hơn vì hiện nay, hầu hết người dân TP.HCM đã có điện thoại, các gia đình đều có máy tính kết nối Internet với đường truyền tốc độ cao. Còn lại là trách nhiệm Nhà Nước trong việc phát triển chính phủ điện tử và DN điện tử.


    Ông Chu Tiến Dũng – chủ tịch Hội Tin Học TP.HCM – HCA
    Phải đi qua nhiều giai đoạn
    Trong các DN, ứng dụng CNTT là công cụ, phương tiện sống còn để phát triển kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, các hoạt động quảng bá. Tất cả các DN lớn hầu hết đã có website và các hoạt động giao dịch điện tử. Nổi bật nhất là khối tài chính, ngân hàng, bảo hiểm trong những năm qua phát triển rất nhanh. Các ngành này đang được hoàn thiện về hệ thống CNTT như: xử lý giao dịch, cơ sở dữ liệu (CSDL) lưu trữ, trung tâm dữ liệu (datacenter) và hệ thống an toàn thông tin. Người dân cũng ngày càng có ý thức sử dụng CNTT, số lượng đăng ký kinh doanh qua mạng nhiều lên, nhu cầu thông tin, đặc biệt giới trẻ, sinh viên dùng các công cụ như điện thoại, máy tính, Internet, email... như một phương tiện cần thiết.
    Trong tương lai, chúng ta đang hướng tới một thành phố điện tử, chính quyền điện tử, hướng đến các dịch vụ công cho người dân. Để xây dựng một thành phố điện tử phải đi qua nhiều giai đoạn:
    (1) Hạ tầng thông tin phải thật tốt, giải quyết vấn đề thông tin, kết nối một cách nhanh nhất
    (2) Xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu tốt để phục vụ cho người dân. Hiện nay, thông tin, CSDL còn phân tán, chưa được tập trung, trong khi đó việc xây dựng các hệ thống này là hết sức quan trọng
    (3) Xây dựng chính phủ điện tử, chính quyền điện tử có nhiều dịch vụ, phục vụ tốt cho dân
    (4) Công cụ, phương tiện (phần mềm (PM), phần cứng, các thiết bị đầu cuối) để cho người dân liên kết, truy cập
    (5) Ngoài ra, người dân cần có một trình độ đủ để quen với việc sử dụng các công cụ điện tử, nộp và theo dõi hồ sơ cấp phép qua mạng, thói quen mua bán qua mạng, giao dịch điện tử.
    Muốn đạt được như vậy thì phải nâng cao trình độ quản lý của nhà nước và chính quyền. Tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho người dân để họ hiểu được lợi ích trong giao dịch điện tử, đặc biệt trong vấn đề chống tham nhũng chống tiêu cực hiện nay.


    Ông Nguyễn Đức Quang, chủ tịch HĐQT công ty cổ phần Vinadata
    Quản lý tài sản thông tin cho khách hàng

    Bên cạnh những thuận lợi, khó khăn lớn nhất của bất cứ nhà cung cấp dịch vụ mới nào hiện nay chính là việc thiết lập một chuẩn mực cung cấp dịch vụ cho quá trình quản lý tài sản thông tin cho khách hàng. Mặt khác, khung pháp lý về các văn bản điện tử cũng chưa đầy đủ để có thể giúp các DN giảm thiểu rủi ro, giảm chi phí bằng cách ứng dụng các công nghệ quản lý và sử dụng thông tin hiện đại.
    Có rất nhiều loại tiêu chuẩn cần phải tuân thủ khi xây dựng trung tâm dữ liệu như: vị trí địa lý, các tiêu chuẩn của tòa nhà, nguồn điện cung cấp và các yếu tố dự phòng rủi ro khác (tiêu chuẩn đánh giá cấp độ tổ chức Uptime Institute). Ngoài ra còn có các tiêu chuẩn vận hành, tuân thủ theo các chuẩn quốc tế như ITIL (Anh) hay các chứng nhận quốc tế về tiêu chuẩn ISO 20000 cho quản lý vận hành, ISO 27000 về bảo mật thông tin.


    Ông Ngô Hùng Phương, giám đốc điều hành tập đoàn CSC Việt Nam
    Đảm bảo chất lượng dịch vụ PM
    Các khách hàng nước ngoài rất quan tâm về chất lượng và đòi hỏi người cung cấp dịch vụ cho họ phải hiểu những gì họ muốn, thậm chí có thể tư vấn cho họ trong lĩnh vực kinh doanh của họ. Do đó, đòi hỏi về nghiệp vụ là rất cao. Những sản phẩm đưa ra thị trường thường phải thỏa mãn yêu cầu cho một tập hợp rộng lớn và đa dạng người dùng cuối, ứng dụng được những công nghệ mới nhất, có tốc độ thực hiện cao... Nói chung, đội ngũ nhân lực phải liên tục học hỏi và làm chủ công nghệ mới.
    Trong gia công PM, việc đối thoại với khách hàng nước ngoài thường xuyên thông qua các cuộc họp từ xa, điện thoại, chat, email. Do đó ngoại ngữ đóng vai trò quan trọng. Thậm chí chỉ giỏi ngoại ngữ chưa đủ. Phải am hiểu nghiệp vụ, hiểu văn hóa của nước sở tại để có thể làm khách hàng hài lòng. Thêm vào đó, quy trình cũng đóng vai trò quan trọng, không nắm vững và tuân thủ quy trình, chúng ta không thể làm ra các sản phẩm có chất lượng cao được
    .


    Ông Hoàng Cát Hải phó giám đốc trung tâm Điện Toán Truyền Số Liệu khu vực 2 (VDC2)
    TP.HCM có nền tảng để triển khai dịch vụ trên mạng
    Hiện nay, TP.HCM đang dẫn đầu cả nước trong 3 chỉ tiêu quan trọng: Ứng dụng CNTT-TT, sản xuất kinh doanh CNTT-TT và môi trường tổ chức và chính sách.
    Riêng về Internet, lĩnh vực này tăng trưởng nhanh tại TP.HCM, hạ tầng băng rộng đã triển khai và đang phát triển. TP.HCM là thị trường có sức cạnh tranh lớn so với các tỉnh thành còn lại trên cả nước. Các ISP mạnh như: VNPT/VDC, Viettel, FPT, EVN liên tục đầu tư để khai thác thị trường. Các chiến dịch quảng cáo/ khuyến mãi, giảm giá thu hút khách hàng sử dụng Internet băng rộng được thực hiện liên tục. Các ISP cũng đang không ngừng gia tăng đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng dung lượng kết nối Internet quốc tế...


    Phó giáo sư, tiến sĩ Dương Anh Đức, phó hiệu trưởng ĐH Khoa Học Tự Nhiên TP.HCM
    Lấy đào tạo làm nhiệm vụ trọng tâm
    Yếu tố quan trọng của đào tạo là phải đảm bảo khả năng làm việc được của sinh viên sau khi ra trường. Điều này cần có sự nỗ lực từ nhiều phía: đơn vị đào tạo (chẳng hạn các ĐH), DN sử dụng nguồn nhân lực, và nhà cung cấp dịch vụ. Nếu có sự phối hợp hài hòa giữa ba thành phần này thì bài toán nhân lực sẽ thành công.
    Đơn vị đào tạo luôn ý thức, tìm hiểu thông tin từ phía nhà tuyển dụng thông qua cựu sinh viên đang làm việc tại các tập đoàn và DN để cập nhật chương trình đào tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu của xã hội. Triển khai chương trình khoa học dịch vụ cũng là một trong những công nghệ mới nhất để giúp xây dựng các chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội thật tốt.


    Ông Lê Hồng Minh – chủ tịch hội đồng quản trị - tập đoàn VinaGame
    Phát triển công nghiệp số

    Dân số Việt Nam đông và trẻ nên số lượng người dân tiếp cận Internet là rất lớn (năm 2008 đã có 20 triệu người sử dụng Internet, chiếm 25% dân số). Nhu cầu lớn đến từ thị trường là tiền đề quan trọng để phát triển. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng của DN cho việc cung cấp các nội dung, dịch vụ giải trí trên nền tảng Internet thì vẫn còn trong giai đoạn bắt đầu. Các DN vẫn lo sợ mình không đủ kinh nghiệm và đủ nguồn lực để cung cấp các dịch vụ, sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Đó là bài toán đầu tiên cho DN. Thứ hai, bài toán cho các cơ quan quản lý – phải làm sao tạo ra khung pháp lý nhằm tạo điều kiện cho DN yên tâm đưa các nội dung giải trí trực tuyến đến phục vụ người tiêu dùng.

     

    ID: B0807_28