• Thứ Sáu, 29/08/2008 12:34 (GMT+7)

    Hạ tầng Internet Việt Nam

    Internet được sử dụng chính thức ở Việt Nam từ ngày 19/11/1997, cuối năm 2005, vượt ngưỡng thuê bao châu Á (8,4%). Đến tháng 3/2007 vượt ngưỡng thuê bao thế giới 16,9% và được xếp hạng 17/top 20 nước về số người sử dụng Internet. Đối tượng sử dụng Internet chính hiện nay là: Người sử dụng cá nhân, doanh nghiệp (DN) - tổ chức. Về nhu cầu ứng dụng, có thể phân thành 3 lọai: Nhu cầu ứng dụng cơ bản, ứng dụng phổ thông và ứng dụng cao cấp.

    Có nhiều gói dịch vụ
    Ông Lê Ngọc Quốc Bảo, giám đốc kinh doanh công ty Công Nghệ Song Phát
    Việc cung cấp dịch vụ (DV) Internet ngày càng tốt hơn so với những năm trước, như: tốc độ đường truyền được cải thiện, kết nối gần như liên tục, có nhiều lựa chọn hơn về thiết bị kết nối, modem cũng đa dạng hơn. Mặt khác, nhà cung cấp DV (ISP) và DV hậu mãi Internet cũng đa dạng. Internet Việt Nam hiện nay có rất nhiều gói: phục vụ cho gia đình, cá nhân ít truy cập và cho DN với đòi hỏi tốc độ cao. Về mức giá, tôi thấy phù hợp, có nhiều mức cước lựa chọn so với trước đây.


    Lắp đặt Internet dễ dàng
    Ông Dương Văn Thịnh, giám đốc kinh doanh APC Schneider Electric
    Hiện tại lắp đặt Internet rất dễ so với 5-7 năm trước đây. Về mặt đường truyền cũng như giá cả thay đổi rất đáng kể và DV của những nhà cung cấp cũng được cải thiện. Tuy nhiên, về giá theo tôi còn hơi cao.


    Để khách hàng yên tâm và thỏa mãn hơn....
    Ông Vũ Minh Trí, trợ giảng Khoa CNTT trường đại học Khoa Học Tự Nhiên TPHCM
    Chất lượng đường truyền hiện nay ở Việt Nam theo tôi đánh giá đang hoàn thiện nhanh. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại một số vấn đề như: tốc độ tải lên-xuống (Up-Download) không đúng hay không sát thực tế, rớt mạng đột ngột, nếu dùng cáp thì đứt/hỏng cáp mà nhanh nhất phải 1 ngày sau mới có người xuống khắc phục; hỏng modem/router do nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) cung cấp, DV hỗ trợ còn chưa tận tình, đôi lúc không quan tâm lắm đến những vấn đề khách hàng (KH) đang gặp phải...
    Để KH yên tâm và thỏa mãn hơn với những gói cước DV của mình đưa ra, các ISP cần một mặt nâng cao băng thông để sát với thông tin cam kết của mỗi gói cước đưa ra, mặt khác phải chú trọng khâu bảo hành, hậu mãi và hỗ trợ kịp thời, tận tình giúp KH khắc phục sự cố nhanh nhất có thể. Có như thế mới giúp KH hoàn toàn thỏa mãn khi sử dụng DV của họ.


    Tốc độ đường truyền chưa chính xác với hợp đồng
    Lê Đình Minh Trí, sinh viên năm 4 Khoa Toán-Tin trường đại học Sư Phạm TP.HCM

    Việc lắp đặt Internet tại nhà hiện nay rất dễ dàng và ngày càng nhanh chóng (do các nhà ISP luôn muốn tăng số lượng KH cũng như không có việc độc quyền như trước đây); nếu có vấn đề trục trặc về mạng, tôi có thể liên hệ tổng đài DV và được hỗ trợ nhanh chóng. Tuy vậy, chi phí tương đối cao với sinh viên (khoảng 285.000 VNĐ/tháng).
    Chất lượng đường truyền cũng được cải thiện nhiều. Các chương trình hậu mãi, bảo hành, bảo trì được xử lý tốt và nhanh chóng hơn. Tuy nhiên, tốc độ đường truyền đôi khi không chính xác so với hợp đồng về gói cước DV, tốc độ trong hợp đồng là 3072/512. Vào giờ cao điểm dường như con số này chỉ là mơ ước. Nhà cung cấp cần phải nâng cao tốc độ đường truyền hơn nữa cho đúng với tốc độ của gói cước trong hợp đồng.


    Hướng dẫn cho KH sử dụng tốt DV
    Ông Trần Ngọc Thiều, giám đốc trung tâm Kỹ Thuật Viễn Thông chi nhánh TP.HCM - tổng công ty Viễn Thông Quân Đội
    Trong quá trình phục vụ KH, chúng tôi thường gặp 2 vấn đề chính: KH nắm DV chưa tốt, nên khi khai thác sử dụng DV gặp những trục trặc nhất định (rất thường gặp); việc thứ 2 là các truy cập, đặc biệt là hướng đi nước ngoài, do chất lượng cũng như định tuyến không tốt bằng DV trong nước đã gây nên sự khó chịu cho KH, ví dụ như: trễ, khó kết nối... Giải pháp của chúng tôi là hướng dẫn cho KH sử dụng tốt DV, sử dụng tốt thiết bị đầu cuối cũng như lựa chọn các giải pháp, các mức giá làm sao cho phù hợp với yêu cầu của mình. Đối với các DN, đa phần có mạng nội bộ nên chúng tôi tư vấn và tổ chức làm sao cho kết nối hợp lý, phù hợp với mức giá DV mà họ lựa chọn.
    Các nhà cung cấp DV cần có những cam kết về chất lượng DV, chất lượng của sản phẩm mình tạo ra, chất lượng phục vụ. Chất lượng DV bao gồm phải tổ chức tốt hệ thống bán hàng, chăm sóc KH sau khi khuyến mãi, thời gian triển khai, khắc phục, hỗ trợ kỹ thuật cho KH. Chúng tôi đã tập trung giải quyết trung bình thời gian sửa chữa cho KH dưới 2 tiếng/thuê bao (cam kết đưa ra là 3 tiếng), về phát triển theo quy định của tổng công ty là 2 ngày nhưng thực tế thì tỷ lệ này ở TP.HCM là dưới 1 ngày (chiếm 70%), đây cũng là cố gắng về phần chăm sóc KH. Về chất lượng mạng lưới, chúng tôi chọn giải pháp công nghệ tiên tiến nhất để tạo cho chất lượng DV tốt, băng thông rộng, đảm bảo nhu cầu KH. Chúng tôi đã thay đổi về cơ bản toàn bộ thiết bị cũ, các thiết bị mới chiếm trên 550 tổng số điểm nút cung cấp DV và chỉ còn lại 1-2 điểm là sử dụng thiết bị cũ, do đó chất lượng mạng lưới, chất lượng DV đã tốt hơn rất nhiều.


    Khắc phục tốc độ đường truyền quốc tế
    Ông Phùng Hưng, phó tổng giám đốc FPT Telecom Miền Nam
    Phần lớn các khách hàng gia đình và DN hay than phiền về tốc độ đường truyền đi quốc tế. Trong năm 2007, FPT Telecom đã đầu tư 10 triệu USD để mua 40Gbs băng thông đi quốc tế. Trong thời gian tới, khách hàng Internet của FPT Telecom sẽ hưởng một đường truyền đi quốc tế cao gấp 5 lần hiện tại. Về thời gian khắc phục sự cố, chúng tôi đang bổ sung nhân lực đồng thời kết hợp cùng các nhà cung cấp dịch vụ khác như: VNPT, VDC, Điện lực, các đơn vị thi công công trình đào đường...nhằm khắc phục các sự cố Internet nhanh nhất.
    FPT Telecom hiện đã đưa vào các kênh phục vụ khách hàng và kênh báo hỏng Internet như: tổng đài 8100, trang portal gia hạn sử dụng Internet.


    DN đòi hỏi mạng có tính ổn định cao
    Ông Trương Hoài Trang, phó giám đốc VDC

    Hiện nay, việc đáp ứng mạng Internet cho 3 nhu cầu: sử dụng ít, sử dụng vừa và sử dụng cao (dành cho các DN). Ở các thành phố lớn đáp ứng nhu cầu tốt hơn. Các nhu cầu cơ bản thì đơn giản ở đâu cũng đáp ứng được, nhưng nhu cầu cho DN đòi hỏi độ ổn định cao hơn, do vậy các nhà cung cấp DV viễn thông phải có mạng ổn định.
    Để phát triển hạ tầng, chúng tôi đã có một kế hoạch xây dựng mạng metro kết hợp với mạng NGN trên một trục để đáp ứng toàn bộ yêu cầu xã hội. Mạng cáp đồng hiện chỉ đáp ứng được cự ly trong khoảng độ từ 2-3 km từ chỗ nhà cung cấp đến người dùng. Đối với cáp quang thì dài hơn, đặc biệt mạng metro tại các thành phố lớn như TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu, mạng cáp quang đã phủ kín toàn bộ.
    Năm 2008, VDC tập trung nguồn lực cho các DV: băng rộng, giá trị gia tăng, thông tin cho di động, E-Commerce; triển khai WiFi, WiMax phù hợp với nhu cầu từng địa bàn; tăng cường phát triển DV Internet cho các mạng thị trường giáo dục, y tế nông thôn, vùng sâu, vùng xa. VDC phấn đấu năm 2008 có mật độ thuê bao Internet đạt từ 8 - 12 thuê bao/100 dân, tỷ lệ sử dụng Internet đạt 25% - 35% dân số.


    Mời đón xem chuyên mục 1001 phát sóng định kỳ vào lúc 12 giờ 40 thứ Bảy và phát lại vào lúc 10 giờ 50 sáng Chủ Nhật trên HTV9, tần xuất 2 tuần/số.
    ID: B0808_48