• Thứ Tư, 01/10/2008 06:50 (GMT+7)

    Phát triển hạ tầng thông tin di động: Khuyến khích chia sẻ hạ tầng

    Chương trình 1001 đã có buổi toạ đàm với đại diện cơ quan quản lý nhà nước và 2 nhà khia thác Vinaphone, S-Fone về hạ tầng thông tin di động và xu hướng hội tụ Internet viễn thông.

    Chương trình 1001 đã có buổi tọa đàm với đại diện cơ quan quản lý nhà nước và 2 nhà khai thác Vinaphone, S-Fone về hạ tầng thông tin di động và xu hướng hội tụ Internet viễn thông. Do số trang có hạn, tạp chí TGVT chỉ trích đăng một phần của tọa đàm.

    Chương trình 1001: Hiện nay, các nhà cung cấp phải đầu tư rất nhiều, từ hạ tầng cho đến dịch vụ. Điều đó tạo nên khó khăn cũng như thuận lợi gì?

       

    Thuê bao di động tại Việt Nam có tốc độ tăng trưởng mạnh trong vài năm gần đây. Riêng năm 2007, con số thuê bao phát triển mới đã đạt trên 12 triệu. Ngày 3/6/2008, bộ Thông Tin và Truyền Thông đã công bố lượng thuê bao hoạt động tại 4 mạng di động lớn tại Việt Nam. Theo đó, bốn mạng di động VinaPhone, MobiFone, Viettel và S-Fone đang có trên 48 triệu thuê bao trong cả nước, trong số này trên 90% là thuê bao trả trước. Mạng Viettel đang dẫn đầu với 19,42 triệu thuê bao. MobiFone có số khách hàng lớn thứ hai với hơn 13,4 triệu. VinaPhone thấp hơn một chút với 12,1 triệu. 3,14 triệu thuê bao di động thuộc mạng S-Fone.

     

    Ông Đỗ Văn Quất, giám đốc kinh doanh tiếp thị trung tâm ĐTDĐ CDMA S-Telecom (S-Fone): Hạ tầng thông tin di động có những thành phần cơ bản như: mạng truy nhập, mạng truyền dẫn và mạng lõi. Tất nhiên, các nhà khai thác phải đầu tư các hệ thống thành phần cơ bản của nó. Ví dụ, mạng lõi nhà khai thác nào cũng phải tự đầu tư; truyền dẫn có thể thuê mướn hoặc đầu tư một phần; mạng truy nhập (mạng access), nhà khai thác nào cũng phải đầu tư. Việc tự đầu tư dẫn đến chi phí đầu tư rất lớn, tốn kém. Tuy nhiên, nó có những mặt lợi là: sự chủ động của nhà khai thác trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch triển khai của mình; Sự chủ động khai thác trong việc tổ chức thực hiện triển khai đầu tư của mình

    Tuy vậy, có những thành phần trong hệ thống mạng có thể chia sẻ sử dụng với nhau tốt hơn. Trong thực tế, các nhà khai thác cũng đã chia sẻ sử dụng qua các hình thức trao đổi hoặc thuê mướn lại. Theo tôi, việc chia sẻ cơ sở hạ tầng càng nhiều thì càng tốt do tiết kiệm được chi phí đầu tư cho nhà khai thác cũng như tiết kiệm được nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, có những nhà trạm hoặc tháp ăng ten chúng ta muốn chia sẻ cũng không được. Chẳng hạn, cùng đặt ăng ten trên một ngôi nhà nhưng tải trọng của ngôi nhà đó không cho phép nhiều nhà khai thác cùng đặt. Kể cả vỏ trạm để đặt các thiết bị, cũng không cho phép đặt nhiều thiết bị của nhiều nhà khai thác.

    Chương trình 1001: Thực tế, chỉ nói riêng về trạm thu phát sóng di động (BTS), có địa phương được đầu tư trạm BTS quá nhiều, trong khi có địa phương lại trống, lõm. Làm thế nào để các đơn vị có thể dùng chung hạ tầng hoặc khắc phục tình trạng đầu tư không đều?

    Ông Hoàng Văn Toàn, giám đốc trung tâm Dịch Vụ Viễn Thông Khu Vực 2 (Vinaphone): Việc các nhà khai thác dịch vụ viễn thông phối hợp với nhau để dùng chung cơ sở hạ tầng là một phương án rất tốt. Nhưng hiện nay, vấn đề quy hoạch tế bào cell của mỗi nhà khai thác có những điểm khác nhau. Chính vì thế trong quá trình phát triển, mỗi nhà khai thác đều có quy hoạch riêng. Với cơ sở hạ tầng trong khu vực TP.HCM hay ở các đô thị lớn, chúng ta đều thuê của nhà dân. Do đó, vấn đề tải trọng của từng cột ăng ten và vị trí đặt nhà trạm cũng có những hạn chế để cho phép phối hợp với nhau. Tuy nhiên, ở phạm vi các tỉnh và những vùng rộng lớn, việc phối hợp sử dụng chung các cột ăng ten cũng khả thi, có thể đáp ứng được. Hiện nay khó khăn là khi triển khai khu vực trạm dày đặc trong khu vực thành phố. Việc xin giấy phép xây dựng cũng như sự lo lắng của người dân về sức khỏe và đặc biệt là do kết cấu của các nhà cao tầng và nhà dân không đồng nhất.

    Hiện tại để nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp, VinaPhone đã đầu tư 8.000 trạm BTS mới trong năm 2008 để phấn đấu nâng tổng lượng trạm BTS của VinaPhone đạt 10.000 trạm BTS vào cuối năm 2008.

    Chương trình 1001: Vai trò của cơ quan quản lý? Trách nhiệm và thiện chí của các nhà khai thác ra sao?

    Ông Bùi Việt Dương, phụ trách phòng Bưu Chính-Viễn Thông, sở Thông Tin Truyền Thông TP.HCM: Hiện nay toàn thành phố có 13 triệu thuê bao điện thoại, trong đó có 1,7 triệu thuê bao cố định, còn đến 12 triệu thuê bao di động. Như vậy tính đến nay, mật độ thuê bao của thành phố là 137 máy điện thoại/100 dân, đồng thời 6 nhà khai thác di động cũng đầu tư 2.700 trạm BTS. Điều này cho thấy hạ tầng viễn thông đang được các nhà đầu tư rất nỗ lực phát triển trong thời gian vừa qua.

       

    “Về phía Nhà Nước cần đẩy nhanh tiến độ cấp phép đầu tư các trạm BTS cho các nhà khai thác một cách dễ dàng hơn, như hiện nay thiện chí đầu tư thì có, nhưng trở ngại trong khâu cấp phép không phải nhà khai thác nào cũng vượt qua được”, ông Đỗ Văn Quất.

     

    Bắt đầu từ cuối năm 2007, bộ TTTT đã ban hành các quy định, khi thiết lập các trạm BTS các DN phải xin giấy phép xây dựng. Về ảnh hưởng của trạm BTS đối với sức khoẻ của người dân, năm 2006 có quy định, đối với trạm BTS trước khi đưa vào sử dụng phải xin giấy phép kiểm định các thông số kỹ thuật về chống sét, công suất phát, đặc biệt là chỉ tiêu kiểm định về an toàn bức xạ. Đồng thời, trước khi các trạm này đưa vào sử dụng phải có giấy chứng nhận của cục Quản Lý Chất Lượng - bộ TTTT. Về việc sử dụng chung hạ tầng, thực tế cho đến nay các quy định từ pháp lệnh Bưu Chính Viễn Thông cho đến nghị định về quản lý viễn thông đều chưa bắt buộc các DN phải chia sẻ hạ tầng mà mới ở góc độ khuyến khích, các DN có thể cùng hợp tác.

     
       
     

    Chương trình 1001 phát sóng tọa dàm trong tháng 8/2008, về “Hạ tầng thông tin di động” và “Sự hội tụ Internet - viễn thông”. Từ trái sang: Bà Văn Thị Bích Ty, trưởng BBT TGVT sê-ri B; ông Đỗ Văn Quất; ông Bùi Việt Dương; ông Hoàng Văn Toàn.

       

    Đứng về quan điểm quản lý nhà nước, theo tôi để phát triển bền vững, việc chia sẻ hạ tầng vô cùng quan trọng. Hiện nay, bộ TTTT đang chủ trì dự thảo các luật Viễn Thông, dự kiến Quốc Hội sẽ thông qua vào năm 2009. Trong luật này sẽ có quy định cụ thể, chi tiết hơn về việc chia sẻ hạ tầng cũng như bắt buộc chia sẻ hạ tầng tại các nước họ đang áp dụng.

    Trạm BTS có 2 loại: một loại được xây dựng từ mặt đất lên và có độ cao từ 30m trở lên, đây là loại bắt buộc phải xin giấy phép xây dựng; loại thứ 2, thường gặp ở thành phố hiện nay, thường xây dựng trên các công trình hiện hữu, chủ yếu là nhà ở của người dân. Việc xin giấy phép xây dựng để đảm bảo an toàn cho công trình xây dựng là quy định bắt buộc theo luật Xây Dựng. Cơ chế thực hiện hiện nay tại TP, theo phân cấp, UBND quận/ huyện sẽ tiếp nhận xin giấy phép xây dựng và cũng là nơi cấp phép xây dựng đối với các trạm BTS. Tôi cho rằng, các DN nên thực hiện theo đúng các quy định, như thế việc triển khai sẽ đỡ hơn. Theo quy định của sở, việc triển khai các trạm BTS cần có giấy phép xây dựng và giấy chứng nhận kiểm định.

    Hồng Vinh - hải Anh

    ID: B0809_32