• Thứ Ba, 29/12/2009 11:14 (GMT+7)

    Đánh giá hiệu năng

    Nhìn chung, về mặt kiến trúc Windows Vista có khá nhiều cải tiến so với XP nhưng sự khác biệt giữa Windows 7 so với Vista là không nhiều (thật ra Windows 7 là bản nâng cấp của Vista). Điều này cũng thể hiện qua cách đặt tên nhân của Microsoft: Windows XP là 5.1 Build 2600, Windows Vista là 6.0 Build 6000 trong khi Windows 7 là 6.1 Build 7600 (không phải 7.0).

    Từ XP đến Vista

    Đầu tiên Test Lab xin điểm sơ một vài điểm mới trong Windows Vista so với XP “tiền bối”. Về khả năng bảo mật, Microsoft lần đầu tiên đưa ra khái niệm kiểm soát tài khoản người dùng (User Acount Control) thay cho chế độ administrator mặc định trong Windows XP, điều này giúp hạn chế tốt hơn các virus tự động chạy xâm nhập vào máy so với XP do mặc định hệ thống chỉ chạy với chế độ user, tuy nhiên tính năng này cũng gây phiền hà cho người dùng với quá nhiều cảnh báo. Phiên bản Vista cũng đưa đến cho người dùng giao diện Aero đẹp mắt; tính năng Flip 3D (chuyển đổi cửa sổ ứng dụng bằng giao diện lật cửa sổ thay vì chuyển tab đơn giản như các phiên bản cũ) mang lại cảm giác thích thú hơn; Windows Sidebar hiển thị các thông tin thời tiết, thời gian, lịch nhắc việc… và tính năng tìm kiếm cũng được cải thiện so với phiên bản XP.

    Thư viện đồ họa DirectX 9 trên XP cũng đã được chuyển thành bản DirectX 10 với nhiều cải tiến quan trọng như: khả năng xử lý đa luồng giúp tận dụng tốt các phần cứng mới (CPU đa nhân, GPU đa nhân), chia trình điều khiển thành 2 phần giúp tăng tính ổn định cũng như hệ thống ít bị treo hơn, giảm tải cho CPU tốt hơn, tăng lượng đối tượng được dựng (render) và không giới hạn chiều dài bóng đổ. Tham khảo thêm bài DirectX 10 nền tảng đồ họa đa luồng (ID: A0707_122). Tuy nhiên Windows Vista cũng có hạn chế là chạy hơi ì ạch so với XP. Bạn có thể tham khảo bài Windows Vista SP2 - Tối ưu toàn diện (A0907_122) để khắc phục điều này.

    Đến với Windows 7

    Qua đến phiên bản Windows 7, Microsoft đã tối ưu lại, khắc phục nhược điểm ì ạch và qua sử dụng thực tế với những ứng dụng thông thường, Test Lab nhận thấy Windows 7 chạy có phần “ngọt” hơn Vista, đặc biệt là trên những máy cấu hình yếu như dùng BXL Atom, … Tuy là phiên bản nâng cấp nhưng Windows 7 cũng có những nét riêng, được xem là nổi bật so với các HĐH trước đây như các biểu tượng trên thanh taskbar được sắp xếp ngăn nắp hơn so với Vista, cho phép xem trước cùng lúc tất cả cửa sổ ứng dụng đang mở với giao diện bắt mắt. Tính năng kiểm soát tài khoản người dùng (User Account Control) cũng đã được cải tiến với 4 cấp độ thiết lập cảnh báo giúp người dùng bớt bị các cảnh báo quấy rối hơn. Thư viện đồ họa DirectX cũng đã được nâng cấp lên phiên bản 11 với việc cải tiến ở phần đổ bóng, phủ vân... giúp các nhà phát triển cũng như chuyên gia đồ họa sáng tạo nhiều đối tượng thực tế hơn và phức tạp hơn mà không cần bộ nhớ đồ họa quá lớn. Điều này cũng giúp các hiệu ứng game trong tương lai sẽ thực hơn (xem thêm những nét mới trong DirectX 11, ID: A0910_112). Về mặt tương thích, Windows 7 đem đến cho người dùng chế độ XP Mode giúp chạy những ứng dụng quá cũ và không thể chạy trên nền Windows 7. Đặc biệt, Windows 7 cũng là phiên bản đầu tiên hỗ trợ tính năng đa chạm đang được xem là xu hướng của tương lai.

    Bảng so sánh điểm 3DMark (càng cao càng tốt)

      “Windows XP Professional” “Windows Vista Utimate 32bit” “Windows 7 Utimate 32bit”
    3DMark06 20773 20737 20901
    3DMark Vantage 3DMark Vantage không hỗ trợ Windows XP 15934 15966

    So sánh 3 hệ điều hành

    Để so sánh hiệu năng của 3 phiên bản, Test Lab sử dụng các công cụ đánh giá như WorldBench 6 (đánh giá hiệu năng tổng thể của hệ thống), PCMark Vantage, PCMark 05 và 2 công cụ 3Dmark Vantage và 3Dmark 06 để để đánh giá khả năng xử lý đồ họa và game của hệ thống (không chạy 3Dmark Vantage và PCMark Vantage trên Windows XP do 2 ứng dụng này không hỗ trợ).

    Với công cụ WorldBech 6, nhìn chung khả năng xử lý các ứng dụng trên Windows 7 và Windows XP là ngang nhau với kết quả chung cuộc là 136 điểm, Vista thì có thua đôi chút với kết quả 133 điểm; các kết quả thành phần trong công cụ này cũng cho thấy Windows 7 và Vista hơn XP ở phép thử xử lý ảnh Photoshop và Autodesk 3ds max 8.0 SP-3 (Rendering) nhưng XP lại trội hơn hai đàn em ở phép thử Office, đa tác vụ và chuyển mã video, có lẽ do XP có lợi thế chiếm ít tài nguyên hệ thống hơn. Qua đến công cụ PCMark 05 thì thắng thế có phần nghiêng về Windows 7, kế đến là XP và một lần nữa Vista lại về cuối; tuy nhiên, nhìn qua các phép thử thành phần, hai hậu bối Windows 7 và Vista lại trội hơn XP khá nhiều ở phép thử đồ họa (Graphics) (phép thử đồ họa chênh lệch lên đến> 27%). Điều này có lẽ do Windows XP “già cỗi” không thể phát huy hết sức mạnh của card đồ họa cao cấp mới của ATI.

    Đến phép thử PCMark Vantage thì một lần nữa Windows 7 lại thể hiện ưu thế hiệu năng so với Vista với kết quả quả khoảng 15%, chênh lệch nhiều nhất là ở phép thử Memory với kết quả lên đến 77% (công cụ này không chạy được trên XP). Hai công cụ còn lại là 3DMark 06 và 3Dmark Vantage ưu thế vẫn thuộc về Windows 7 nhưng chênh lệch rất ít, không đáng kể. (Xem thêm biểu đồ và bảng so sánh).

    Kết luận

    Nhìn chung, về mặt tính năng, giao diện, Windows Vista và Windows 7 có phần hào nhoáng cũng như khả năng bảo mật cao hơn XP và dĩ nhiên cũng sẽ chiếm tài nguyên hệ thống nhiều hơn. Tuy nhiên, các kết quả thử nghiệm cho thấy khác biệt hiệu năng của 3 hệ điều hành khi cài trên chiếc máy tính mới cấu hình mạnh là không nhiều và ưu thế lại có phần nghiên về “em út” Windows 7. Do đó nếu bạn tậu một PC mới với cấu hình tương đối thì Windows 7 với nhiều ưu điểm có lẽ là lựa chọn hợp lý vì Windows XP tuy chiếm ít tài nguyên nhưng chỉ hỗ trợ DirectX 9 sẽ không tận dụng được hết khả năng các card đồ họa mới; xu hướng ứng dụng cũng như Game sẽ là xử lý đa luồng.

    Nâng cấp lên Windows 7

    Người dùng đang sử dụng Windows XP muốn nâng cấp lên Windows 7 sẽ gặp một khó khăn: không có tính năng nâng cấp trực tiếp và chỉ còn cách xóa bản Windows XP cũ và cài đặt bản Windows 7 hoàn toàn mới.

    Trước khi tiến hành cài đặt người dùng thường thắc mắc: liệu hệ thống máy tính của mình có cài được Windows 7 không? Microsoft cũng đã cung cấp một ứng dụng miễn phí với tên gọi “Windows 7 Upgrade Advisor”, giúp người dùng có thể kiểm tra hệ thống máy tính để biết câu trả lời.

    Nếu máy tính của bạn có thể cài Windows 7 thì mọi việc trở nên rất đơn giản. Khởi động từ đĩa cài, định dạng lại phân vùng chứa hệ điều hành, rồi tiến hành cài đặt mới Windows 7. Có thể vì một lý do nào đó bạn không định dạng lại ổ cứng (format), xóa sạch dữ liệu để cài đặt mới. Bạn vẫn cài đặt Windows 7 lên phân vùng chứa Widows XP, toàn bộ thư mục Windows XP cũ (Windows, Program Files, Documents and Settings) sẽ được tự động chuyển vào thư mục có tên Windows.old.

    Di chuyển dữ liệu và các thiết lập cá nhân

    Microsoft cung cấp cho người dùng một ứng dụng “Windows Easy Transfer” giúp việc sao lưu được thực hiện dễ dàng hơn. Ứng dụng này cho phép người dùng chuyển các dữ liệu quan trọng sang một ổ cứng khác, ổ USB oặc một máy tính khác có kết nối trong mạng.
    Chương trình này sẽ tiến hành quét toàn bộ Windows XP cũ rồi sao chép các dữ liệu cần thiết vào một tập tin duy nhất. Tập tin này lưu giữ các dữ liệu cá nhân của người dùng như: Thông tin tài khoản người dùng, tập tin và thư mục, những thiết lập và dữ liệu cho chương trình, hình ảnh, video, nhạc số, các thiết lập cho Windows và Internet… Và bạn sẽ dễ dàng phục hồi trên hệ thống mới. Ứng dụng này được cung cấp kèm theo đĩa cài đặt Windows 7.

    Đầu tiên bạn cài đặt Windows Easy Transfer cho Windows XP sau đó khởi động Windows Easy Transfer trong máy cài đặt Windows XP. Tiếp tục kích hoạt chương trình qua các giao diện cho đến khi nó hỏi bạn về việc truyền tải dữ liệu. Chọn “Use a CD, DVD or other removable media” để chuyển đến giao diện kế tiếp và bạn chỉ cần chọn dữ liệu cần truyền tải. Tiếp theo, chọn tên ổ di động mà bạn cần lưu trữ dữ liệu, nhấn “Next” để bắt đầu sao lưu dữ liệu. Khi kết thúc, sẽ có dòng tin nhắn thông báo hoàn tất và có thể gắn ổ di động sang máy cài đặt Windows 7.

    Mở Windows Easy Transfer từ máy cài đặt Windows 7, nhấn qua các giao diện cho đến khi được hỏi là đây là lần truyền tải mới hay tiếp tục, ta chọn “Continuing Transfer”. Giao diện kế sẽ hỏi loại truyền tải, chọn “Removable Media”. Sau khi cung cấp tên của ổ di động, nhấn “Next” và công việc truyền tải sẽ hoàn tất.

    Drive cho Windows 7

    Trong Windows 7 đã tích hợp sẵn Windows Hardware Quality Labs chứng thực driver cho các hầu hết phần cứng thông dụng hiện nay. Thậm chí đối với một số hệ thống phần cứng khi cài Windows 7 thì không cần phải cài thêm bất cứ driver nào.

    Tuy nhiên, Windows 7 sẽ không thể tự động cài những thiết bị ngoại vi mà trước đó driver của nó không được tích hợp vào hệ thống. Bạn có thể sử dụng driver của Windows Vista cho Windows 7 mà không gặp trở ngại nào.

    Ngoài ra, bạn còn có thể tải về các driver còn thiếu trên trang web của các nhà sản xuất thiết bị.

    Quốc nam

    Thụy Vy

    ID: G1001_12