• Thứ Hai, 05/02/2007 10:10 (GMT+7)

    Lật lại huyền thoại Zenda

    Với The Legend of Zelda, Miyamoto muốn tái hiện ký ức thời thơ ấu của mình. Đó là cánh đồng, rừng cây và những hang động của ngoại ô Kyoto... những nơi ông đã khám phá khi còn là một cậu bé.

    Nguyên nhân ra đời

    Zenda với Chibi

    Không giỏi về bình luận game nhưng lại có chút sở trường vẽ vời, lần này The Pen “ngoáy cọ” một số nhân vật trong The Legend of Zelda: Twilight Princess theo phong cách Chibi (rút ngắn chiều cao) nhằm hài hước hóa hình tượng một số nhân vật từ trước đến giờ tưởng chừng như rất “ngầu” (như Link và Ganondorf...). Bên cạnh đó, The Pen cũng thể hiện hình ảnh 2 nhân vật chính là Link và công chúa Zelda bằng nét vẽ của riêng mình, dù chưa thật đẹp nhưng hy vọng những bức tranh của The Pen sẽ làm cho bài giới thiệu nhiều màu sắc và hấp dẫn hơn...

    The Legend of Zelda thực chất được Miyamoto làm cùng thời điểm với Super Mario Bros. Chính vì lý do trên, nhóm của ông quyết định đưa hai ý tưởng đối lập nhau để ứng dụng cho từng game. Theo sự sắp đặt này, Super Mario Bros có cách chơi tuyến tính liền mạch, còn Zelda đối lập hoàn toàn, đòi hỏi người chơi phải vận dụng đầu óc nhiều hơn để định hướng mình sẽ đi đâu và làm gì.

    Với The Legend of Zelda, Miyamoto muốn tái hiện ký ức thời thơ ấu của mình. Đó là cánh đồng, rừng cây và những hang động của ngoại ô Kyoto... những nơi ông đã khám phá khi còn là một cậu bé “Khi du ngoạn quanh ngoại ô mà không có bản đồ trên tay, tự kiếm đường, vấp phải những vật cản trên đường, tôi thấy thật tuyệt vời khi cảm giác được chất phiêu lưu ấy”.

    Những dấu son
    The Legend of Zelda (THE HYRULE FANTASY) chính là phiên bản Zelda đầu tiên ra mắt tại Nhật vào năm 1986 nhằm quảng bá cho Disk System (thay thế cho băng) dành cho máy Famicom (NES). Sau đó một năm, The Legend of Zelda nhanh chóng trở thành trò chơi thứ hai trên Famicom (trước đó là Super Mario Bros), bán được hơn một triệu bản.

    Trò chơi còn vinh dự xếp thứ năm trong top những trò chơi hay nhất mọi thời đại của tạp chí Game Informer, xếp thứ năm “The Greatest 200 Video Games of Their Time” trong ấn phẩm số 200 của tạp chí Electronic Gaming Monthly... Nó thành công đến nỗi được tái phát hành nhiều lần trên nhiều hệ máy khác nhau của Nintendo, và gần đây là qua dịch vụ Virtual Console của Wii vào năm 2006; nó còn có mặt trong phiên bản The Legend of Zelda: Collector’s Edition dành cho GameCube và phần có thể “unlock” trò chơi trong phiên bản GameCube của Animal Crossing.

    Sau khi tung hoành ngang dọc trên cả NES và SNES, Zelda đã đặt chân lên handheld console với phiên bản The Legend of Zelda: Link’s Awakening dành cho Game Boy vào năm 1993. Đây chính là câu chuyện tiếp nối của The Legend of Zelda: A Link to the Past trên hệ SNES trước đây.

    Trò chơi sau đó có bản làm lại (remake) mang tên The Legend of Zelda: Link’s Awakening DX cho hệ Game Boy Color (1998). Điểm thú vị của phiên bản remake này là người chơi sẽ giải quyết các câu đố trực quan hơn dựa vào màu sắc. Ngoài ra, nếu kết nối với phụ kiện Game Boy Printer, người chơi có thể lưu lại các tấm ảnh yêu thích và xem lại qua mục Camera Shop và Photo Album.

    Sau những ngày hoàng kim trên không gian 2D, huyền thoại Zelda cũng chuyển qua thế giới 3D với phiên bản The Legend of Zelda: Ocarina of Time dành cho Nintendo 64. Chỉ trong sáu tháng kể từ ngày phát hành 21/11/1998, Ocarina of Time đã bán được hơn năm triệu bản (hơn 8,6 triệu bản trên toàn thế giới). Các tạp chí và trang web hàng đầu về game như Famitsu, IGN, Gamespot, EGM, Nintendo Power,... đều không ngần ngại cho điểm số tuyệt đối và hàng tá danh hiệu cao quý trong năm đó; giới game thủ và các nhà phê bình game đánh giá là phiên bản Zelda hay nhất từ trước đến nay.

    Gần hai năm sau khi Ocarina of Time trở thành huyền thoại, The Legend of Zelda: Majora’s Mask phiên bản thứ hai của Zelda trên Nintendo 64 được ra mắt tại Nhật vào 27/04/2000. Lập tức 314.000 bản được bán trong tuần đầu phát hành tại quê nhà và sau đó đạt mốc ba triệu bản trên toàn thế giới.

    Dấu nhấn của Majora’s Mask chính là cốt truyện độc đáo nhất trong các bản Zelda. Thay vì trở thành người hùng quen thuộc của Hyrule như các phiên bản trước, Link phải tự cứu mình khỏi lời nguyền của chiếc mặt nạ ma quái với hạn định ba ngày trong vùng đất kì bí Termina. Majora’s Mask đòi hỏi người chơi phải sử dụng Expansion Pak (thiết bị giúp cải thiện bộ nhớ cho Nintendo 64) nhằm thể hiện số lượng lớn nhân vật trong game đồng thời cải thiện tốt về đồ họa.

    Majora’s Mask nhận được rất nhiều ý kiến trái ngược nhau từ các tạp chí và các nhà phê bình game danh tiếng. Phần lớn cho rằng chính độ khó của các thử thách, cốt truyện đặc sắc và thời gian chơi bị giới hạn giúp Majora’s Mask vượt qua cái bóng khổng lồ của Ocarina of Time. Số còn lại cho rằng trò chơi đáng thất vọng khi đi ngoài quỹ đạo mà Ocarina of Time tạo ra. Nhưng đây có lẽ là phiên bản Zelda duy nhất đến thời điểm hiện tại có thể so sánh với Ocarina of Time.

    Mỗi lần Nintendo công bố hệ máy mới, người ta lại thấy có mặt Zelda và các game thủ GameCube cũng không bị phụ lòng khi The Legend of Zelda: The Wind Waker, phiên bản thứ 10 của xêri The Legend of Zelda, ra mắt vào ngày 13/12 năm 2003.

    Đây cũng là lần đầu tiên các fan được chu du trên biển cùng Link khám phá thánh vật có tên Triforce. Tuy nhiên, đây cũng là điểm bất tiện của trò chơi khi game thủ phải mất rất nhiều thời gian chỉ để di chuyển giữa các khu vực bằng đường biển. Dù vậy trò chơi vẫn được đánh giá cao nhờ thừa hưởng cách chơi đặc sắc của Ocarina of Time. Đây cũng là game thứ tư trong danh sách bảy game nhận được điểm tuyệt đối của tạp chí danh tiếng Famitsu. Ngoài ra, Wind Waker cũng nhận được danh hiệu Game of the Year của Gamespot, Nintendo Power và hàng tá giải thưởng quan trọng từ các website và tạp chí game khác. Mặt khác, trò chơi cũng vinh dự xếp thứ 13 trong danh sách những game bán chạy nhất của thế kỉ 21.

    The Legend of Zelda: The Minish Cap là phiên bản Zelda dành cho Game Boy Advance được phát hành vào năm 2004 tại Nhật và châu Âu sau đó tại Bắc Mỹ (2005). The Minish Cap nhanh chóng đoạt các giải thưởng quan trọng về game cho Game Boy Advance trong năm 2005 trước những anh tài khác như Wario Ware: Twisted!, Fire Emblem: The Sacred Stone.
     

    ID: G0702_28