• Thứ Tư, 29/11/2006 10:21 (GMT+7)

    Các hệ máy handheld

    Máy chơi game cầm tay (handheld game console-HGC) là những chiếc máy có trọng lượng nhẹ, kết cấu vi mạch điện tử nhỏ gọn, có khả năng chơi game. Không giống những chiếc video game console thông dụng, HGC tích hợp phím điều khiển, màn hình và loa.

    Máy chơi game cầm tay (handheld game console-HGC) là những chiếc máy có trọng lượng nhẹ, kết cấu vi mạch điện tử nhỏ gọn, có khả năng chơi game. Không giống những chiếc video game console thông dụng, HGC tích hợp phím điều khiển, màn hình và loa. Trong khoảng thập niên 70 và 80, khá nhiều công ty như Coleco và Milton-Bradley đã chế tạo những máy chơi game điện tử với trọng lượng nhẹ nhưng ngày nay, chúng không được công nhận là những chiếc console bởi thực chất chúng chỉ có khả năng chơi được một game cố định.

    Hệ handheld đầu tiên - Microvision

    HGC sử dụng băng trao đổi dữ liệu đầu tiên là Microvision, được thiết kế bởi Smith Engineering và được phân phối, thương mại hóa bởi Milton-Bradley vào năm 1979. Năm đầu ra mắt, Microvision tỏ ra khá thành công khi mang về lợi nhuận ròng 8 triệu đô la cho Smith Engineering.


    Tuy nhiên màn hình nhỏ, lượng game ít (chỉ vẻn vẹn 13 trò) khiến nó chỉ “thọ” được 2 năm. Ngày nay, để tìm những chiếc máy Microvision còn hoạt động được rất khó. Phím bấm dễ hỏng hóc và công nghệ LCD của những năm 70 còn nhiều hạn chế, rất dễ bị rò rỉ và thiếu sáng. Vào năm 1983, Palmtex chuyển hướng sang phát hành Home-Computer Software Micro Cartridge System với mục đích tấn công sang thị trường máy chơi game gia đình. Nhưng rốt cục, số phận của nó cũng không khá hơn Microvision bao nhiêu khi chỉ có 3 game xuất hiện.

    Game tiêu biểu cho Microvision

    Star Trek Phaser Strike: Dựa trên loạt phim truyền hình nổi tiếng, hãng Milton Bradley phát hành tựa game trên cho Microvision. Đây là một game “shooting” cổ điển và người chơi có nhiệm vụ phá hủy những phi thuyền của phe Klingon.

    Nhà thiết kế Microvision: chính là Jay Smith, một kỹ sư đồng thời là người sáng lập công ty Smith Engineering. Trước đó, ông từng là nhân viên thuộc tập đoàn chuyên cung cấp trò chơi nổi tiếng của Mỹ mang tên Mattel. Sau Microvision, công ty của Smith được General Consumer Electric (GCE) đặt hàng để làm máy chơi game hướng đến thị trường gia đình mang tên Vectrex (11/1982) với mức giá 199 đô la. Thị trường trò chơi điện tử suy thoái đã khiến vòng đời của Vectrex cũng ngắn ngủi khi phải dừng chân vào đầu năm 1984.

    Đầu thập niên 90 - Nintendo Game Boy xuất hiện

    Ball trò chơi đầu tiên thuộc Game & Watch series của Nintendo

    Trước khi Nintendo quyết định ra mắt Game Boy 5 năm, nhóm thiết kế dưới sự chỉ đạo của Gumpei Yokoi đang chịu trách nhiệm cho hệ thống Game & Watch, đồng thời đảm trách Metroid và Kid Icarus cho NES (Nintendo Entertaiment System). Ngay khi ra mắt, Game Boy đã tạo được sự chú ý của các nhà phê bình trong ngành công nghiệp game, đó chính là màn hình đơn sắc của máy quá nhỏ, hoàn toàn không tương xứng với chi phí đầu tư. Chính những đánh giá khách quan trên khiến nhóm thiết kế quyết định đặt mục tiêu giảm nhẹ chi phí, đồng thời hiệu chỉnh nguồn để máy hoạt động hiệu quả nhất. Nhờ vậy, nên khi so sánh với “trưởng bối” Microvision, Game Boy đã chứng tỏ được bước nhảy vọt của mình.

    Trong quá trình thực hiện Game Boy, Yokoi chợt nhận ra hệ máy mà mình đảm trách cần một tựa game thực sự “độc đáo” để gây tiếng vang, đồng thời đủ sức thuyết phục người tiêu dùng mua máy. Vào tháng 6 năm 1988, Minoru Arakawa, bấy giờ là chủ tịch (CEO) của Nintendo of America tình cờ phát hiện game Tetris đang được trình diễn tại một hội chợ. Nintendo ngay sau đó quyết định mua bản quyền của game trên, đồng thời đóng gói bán kèm nó với những máy Game Boy đầu tiên. Ngay lập tức Tertis trở thành cơn sốt vào thời điểm đó. Cuối năm lịch sử này, hơn một triệu máy Game Boy hết sạch. Người ta thống kê được sau năm 1992, khoảng 25 triệu máy được bán ra. Game Boy trở thành chiếc console bán chạy nhất trong lịch sử công nghiệp game, với hơn 190 triệu máy bán ra trên toàn thế giới. Một số nguồn tin khác cho biết con số thực tế còn lớn hơn rất nhiều với ước tính khoảng hơn 220 triệu máy.

    Nhà thiết kế Game Boy:

    Gunpei Yokoi, hay còn được biết với cái tên Gumpei Yokoi (10/09/1941-04/10/1997). Ông bắt đầu làm việc cho Nintendo vào năm 1965 sau khi tốt nghiệp đại học Doshisha, chuyên ngành điện tử. Theo nhiều tài liệu ghi nhận, ý tưởng Game Boy đã có từ trước khi ông về làm việc cho Nintendo. Trong quá trình thiết kế Game Boy, Yokoi tự biết để có được thành công, chiếc máy mình làm ra phải nhỏ, đủ độ sáng, rẻ tiền, bền và đặc biệt phải có một thư viện game phong phú, hấp dẫn ngay khi máy ra đời. Những suy nghĩ tâm huyết này đã giúp ông cùng với sản phẩm của mình tạo được những thành công vững chắc, đánh bại các đối thủ cùng thời khác.

    Game tiêu biểu trên nền Game Boy

    Pokémon Red and Pokémon Blue (còn có tên Pocket Monsters: Red and Green) là hai phiên bản đầu tiên của xê-ri game nhập vai truyền kỳ Pokémon sau này, ra mắt tại Nhật vào năm 1996. Cả 2 phiên bản Pokémon trên cũng chính là hai trò chơi bán chạy nhất mọi thời đại. Trò chơi lấy bối cảnh là thế giới viễn tưởng Kanto, người chơi sẽ hoàn thành nhiệm vụ của mình để trở thành Pokémon Master. Sau này cả Pokémon Red và Blue đều được làm lại cho hệ Game Boy Advance với tên mới Pokémon FireRed và Pokémon LeafGreen.

    Donkey Kong là game platform pha thêm yếu tố giải đố do Nintendo phát triển cho hệ Game Boy. Donkey Kong dựa trên game Arcade cùng tên (ra mắt năm 1981). Tương tự phiên bản trên Arcade và máy NES, người chơi sẽ điều khiển anh chàng Mario với nhiệm vụ giải cứu cô nàng Pauline từ tay Donkey Kong.

    Castlevania: The Adventure chính là game Castlevania đầu tiên dành cho hệ Game Boy, ra mắt tại Nhật vào 27/10/1989 và tại Bắc Mỹ vào tháng 12/1989. Phiên bản dành riêng cho Game Boy này gặp khá nhiều rắc rối về đồ họa thể hiện rõ nhất qua chuyển động của nhân vật. Để hạn chế việc này, các nhà phát triển đã hiệu chỉnh tốc độ di chuyển của nhân vật chậm hơn mức thông thường.

    Atari Lynx

    Mặc dù Game Boy trở thành hệ cầm tay thành công nhất trong lịch sử nhưng không có nghĩa là trong suốt thời gian tung hoành của mình, Game Boy không hề gặp những đối thủ khó chịu. Có thể kể đến đầu tiên là Atari Lynx

    Vào năm 1987, Epyx nghiên cứu và chế tạo ra chiếc máy chơi game cầm tay đầu tiên của mình lấy tên Handy, sau đó có tên mới là Atari Lynx vào năm 1989. Đây cũng là máy chơi game cầm tay đầu tiên có màn hình màu. Ngoài ra tính năng mạng tích hợp hỗ trợ đến 17 người cùng lúc và bề mặt giữa phía D-pad và phím bấm có thể hoán đổi nhau để thích hợp cho người thuận tay trái là những điểm khá sáng giá của máy. Tuy nhiên, những đặc điểm kể trên cũng là những nguyên nhân đẩy giá máy lên cao. Lý do khách quan đó đẩy người tiêu dùng phải lựa chọn những sản phẩm khác vừa với túi tiền của mình hơn. Ngoài ra, hình dáng kềnh càng, tiêu thụ điện năng cao và ít game hỗ trợ từ hãng thứ ba đã đẩy Atari Lynx xuống hố sâu trước chiến dịch quảng cáo rầm rộ của Nintendo. Mặc dù nỗ lực gỡ gạc bằng cách thiết kế lại sản phẩm vào năm 1991 nhưng Atari lynx cũng không tránh khỏi thất bại được báo trước.

    Nhà thiết kế Atari Lynx: hãng Epyx (sau được đổi tên là Automated Simulations) được thành lập vào năm 1978, đồng thời là nhà phát hành game đầu tiên cho máy BASIC (Commodore BASIC) mang tên Freeman and Connelley và game Starfleet Orion cho Commodore Pet. Thời gian sau, công ty phát triển khá nhiều game cho các máy tính gia đình phổ biến như Apple II Family, TRS-80 xê-ri, Atari 400/800 và Commodore 64.

    Game của Epyx được biết đến khá nhiều với loạt game về các thế vận hội như Summer Games, Winter Games, và cả Temple of Apshai, Jumpman v.v. Năm 1989, công ty suýt bị phá sản sau khi quyết định tách thành nhiều nhánh phát triển khác nhau nhưng tất cả đều lần lượt thất bại. Hiện công ty đang đóng trụ sở tại San Francisco và tiếp tục phát triển game cầm tay cho hãng Atari.

    NEC TurboExpress

    TurboExpress thực chất là phiên bản cầm tay của máy TurboGrafx, ra đời năm 1990 với giá khởi điểm 249,99USD (sau đó đẩy lên 299,99USD, rồi nhanh chóng trở về mức cũ, đến năm 1992 thì trượt xuống mức 199,99USD). Tại Nhật, tên của nó là PC Engine GT.

    TurboExpress có thể chơi tất cả các game trên TurboGrafx (tất nhiên trên chiếc thẻ nhỏ thiết kế riêng cho máy có tên gọi HuCards). Nó có màn hình 66mm (2,6”) bằng với Game Boy, 512 màu. Turbo có bộ nhớ RAM 64KB và chạy 2 CPU 6820 song song ở tốc độ 3,58MHz.

    Bên cạnh đó, máy còn có chức năng “Turbo Vision” - bộ điều chỉnh TV kèm cổng xuất âm thanh/hình ảnh (cổng RCA), cho phép bạn dùng TurboExpress như đầu video. Ngoài ra, chức năng TurboLink của máy cho phép kết nối 2 người chơi. Tuy nhiên, cho đến khi “qua đời”, chỉ duy nhất trò chơi Falcon là tận dụng được chức năng này.

    Sega Game Gear

    Là chiếc máy game cầm tay thứ ba có màn hình màu sau Lynx và TurboExpress. Ra mắt tại Nhật năm 1990, sau đó một năm, máy đổ bộ lên Bắc Mỹ và châu Âu. Dựa trên nền tảng Sega Master System, Sega có khả năng tạo ra game nhanh chóng nhờ thư viện game đồ sộ kế thừa từ Master System.

    Cũng giống như Lynx và TurboExpress, Game Gear cũng chịu thất bại trước việc Game Boy bành trướng sự thống trị trên thị trường game handheld. Dù vậy, nó cũng xoay trở được doanh số khá hơn 2 đàn anh Lynx lẫn TurboExpress, với sự hỗ trợ từ Sega đến năm 1997 và Majesco cắt giảm giá cho phiên bản năm 2000. Đây chính là chiếc handheld sống thọ nhất không thuộc sở hữu Nintendo (nếu không tính PSP sau này).

    Những game tiêu biểu của Sega Game Gear

    Double Dragon là game hành động cuộn cảnh theo dạng “beat ‘em up” được phát triển bởi Tenchnos Japan Corporation. Nguyên bản của game được thiết kế bởi Yoshihisa Kishimoto. Double Dragon chịu ảnh hưởng khá mạnh của phim võ thuật, đặc biệt là những bộ phim của Lý Tiểu Long, tiêu biểu như Enter the Dragon.

    Trong game, người chơi sẽ điều khiển cặp anh em song sinh Billy và Jimmy Lee, hai võ sư của môn phái Sou-Setsu- Ken. Ngoài việc kéo dài thành nhiều phần khác nhau, Double Dragon phổ biến đến nỗi nó còn được dựng thành phim và cả truyện tranh.

    Ninja Gaiden Ninja Rykenden tên tiếng Nhật là Legend of the Ninja Dragon Sword (còn có tên là Shadow Warriors ở châu Âu) là game hành động dành cho máy NES và được phát triển bởi Tecmo. Nguyên bản của game ra đời tại Nhật vào năm 1988. Sở dĩ tạo được tiếng vang ngay từ khi ra mắt game vì đây là một trong những game đầu tiên sử dụng hoạt cảnh sống dựng bằng phim và nổi tiếng về độ khó.

    Game Boy Color

    Game Boy Color ra đời 21/10/1998 tại Nhật và xuất hiện tại Mỹ vào tháng 11 cùng năm. Màn hình màu, sáng và lớn hơn Game Boy Pocket. Bộ xử lý Zilog Z80 và dung lượng nhớ của Game Boy Color nhanh gấp đôi đàn anh Game Boy. Ngoài ra, máy cũng được tích hợp cổng hồng ngoại kết nối không dây, điều mà cả Game Boy và Game Boy Advance không có được.

    Việc ra đời của Game Boy Color chính là câu trả lời của Nintendo trước sức ép của các nhà phát triển game về hệ máy mới, bởi phần cứng khiêm tốn trong phiên bản Game Boy Pocket rất khó để phát triển game. Ưu điểm, hỗ trợ ngược các game trước đây trên Game Boy (đây cũng là console đầu tiên hỗ trợ tính năng này) giúp máy sở hữu thư viện game đồ sộ mà đàn anh mình có được. Đây cũng là ưu thế mạnh giúp các dòng sản phẩm Game Boy trở về sau có thế cạnh tranh mạnh trước những đối thủ khác.

    Những game tiêu biểu của Game Boy Color

    Dragon Warrior I&II dành cho Game Boy Color phát hành tại Nhật vào 23/09/1999 với cái tên Dragon Quest I&II. Sau đó, game được chuyển thể sang tiếng Anh để ra mắt tại Bắc Mỹ vào 27/09/2000. Đây thực chất là phiên bản gộp được làm lại của Dragon Quest I & Dragon Quest II trên máy Famicom (NES – Nintendo Entertainment System) trước đây.

    The Legend of Zelda: Oracle of Seasons “The Legend of Zelda: Nut of the Mysterious Tree: Chapter of Earth” và The Legend of Zelda:  là hai sản phẩm của Game Boy Color được phát triển bởi sự cộng tác giữa Nintendo và Capcom. Mặc dù ra cùng thời điểm và lấy chung đề tài về cuộc phiêu lưu của anh chàng Link, thế nhưng cách chơi của hai game trên khác biệt nhau khá nhiều. Nếu Oracle of Ages nặng về tính giải đố thì ngược lại Oracle of Seasons lại nhấn mạnh về tính hành động. Điểm khác khá thú vị là bạn có thể sử dụng nhân vật của một trong hai bản chơi kể trên để hoán đổi chúng sang bản chơi còn lại, qua kết nối bằng cáp hay mật mã để khám phá “true ending” của trò chơi.

    Neo-Geo Pocket Color

    Ra mắt tại Nhật năm 1998, chiếc HGC có khả năng thể hiện 16-bit màu này được thiết kế bởi SNK, nhà phát triển máy chơi game gia đình Neo Geo và máy arcade. Chiếc handheld này nối gót Neo Geo Pocket của hãng (ra mắt tại Nhật khoảng đầu năm 1998, và tại Mỹ năm 1999).

    Năm 2000, sau khi SNK mua lại Japanese Pachinko, Neo Geo Pocket Color đổ bộ lên cả hai thị trường lớn là Mỹ và châu Âu, tuy nhiên ngay sau đó hãng thừa nhận sự thất bại của mình cho dù các chiến dịch quảng cáo rầm rộ trên truyền hình Mỹ và được phân phối qua những kênh bán hàng lớn như Wal-Mart, Best Buy, Toy “R” Us. Những chiếc máy ế ẩm còn lưu trong kho được SNK xếp kiện để phân phối tại thị trường châu Á vào tháng 6/2000. Những chiếc máy này được tặng kèm 6 game và có thể đặt trực tiếp qua mạng hay các kênh bán hàng video game khác. Thời điểm này, người ta có thể bắt gặp Neo Geo Pocket Color xuất hiện nhan nhản trên Discovery Channel Stores trong dịp nghỉ lễ với lời chào mời hấp dẫn – 75USD cho máy tặng kèm 8 game.

    Có thể nói trên đất Mỹ, Neo Geo Pocket Color đã tạo được thành công nhất định, chí ít cũng khá hơn những đối thủ cạnh tranh từ thời hậu Sega Game Gear. Tuy nhiên, thiếu hỗ trợ từ các nhà phát triển thứ ba cùng sự cạnh tranh mạnh mẽ từ Game Boy Advance. Một nguyên nhân khá tế nhị khác là khi hãng quyết định đóng gói game trong bìa cạc tông dành cho thị trường Mỹ (để giảm chi phí so với dùng hộp plastic của thị trường Nhật và châu Âu) đã vô tình chạm vào lòng tự ái của khách hàng và tác động không nhỏ đến doanh số của hãng.

    Legend of Ogre Battle Gaiden: Prince of Zenobia. Quá nhiều tựa game đối kháng xuất hiện trên Neo-Geo Pocket Color khiến việc ra mắt của game chiến thuật Prince of Zenobia gợi không ít tò mò lẫn háo hức của các fan. Không như dự tính của nhà phát triển Quest, Prince of Zenobia chỉ kịp ra mắt tại Nhật mà không có bản tiếng Anh sau khi Neo-Geo nhanh chóng ngừng phát triển tại các thị trường khác, trừ quê nhà.

    Samurai Shodown có lẽ không cần phải giới thiệu nhiều về tựa game đối kháng 2D khá quen thuộc này, bởi việc “phủ sóng” khá mạnh của tựa game trên khắp các hệ console thông dụng lẫn ít phổ biến như Super Nintendo, Sega CD, 3DO,...

    Sơ lược về SNK, cha đẻ của Neo-Geo Pocket Color : SNK thực chất là chữ viết tắt của cụm từ Shin Nihon Kikaku, dịch sang tiếng Anh có nghĩa là “New Japan Project.” Hãng được sáng lập tại Osaka, Nhật Bản, vào tháng 7/1978 bởi Eikichi Kawasaki với quyết tâm thiết kế sản phẩm phần mềm lẫn phần cứng thật đa dạng để hướng đến nhiều đối tượng khách hàng khác nhau.

    Ngay sau khi sáng lập, Eikichi Kawasaki nhận thấy tốc độ phát triển chóng mặt của thị trường game thẻ (coin-op video game) nên quyết định mở rộng SNK và hướng công ty tập trung phát triển cho thị trường giàu tiềm năng này. Hai game đầu tiên xuất xưởng là Ozma Wars (1979) và Safari Rally (1980) tạo được ấn tượng mạnh. Mốc son đáng nhớ nhất chính là sự góp mặt của Vanguard, game bắn tàu không gian theo kiểu cuộn cảnh ra mắt năm 1980 (ảnh hưởng mạnh đến Gradius và R-Type, hai xê-ri bắn tàu không gian nổi tiếng khác sau này), đã giúp SNK tạo được tiếng vang tốt. Đồng thời ký được hợp đồng với hãng Centuri hùng mạnh để phát hành những game trên đến thị trường Bắc Mỹ.

    Gần 3 thập niên phát triển, SNK đã sản sinh nhiều tên tuổi để đời như Metal Slug, King of Fighters, Samurai Showdown, Fatal Fury. Hiện tại, ngoài việc phát triển game cho Arcade, hãng còn lấn sân sang thị phần game cho console, handheld và điện thoại di động.

    Wonderswan Color

    Thiết kế bởi Bandai, Wonderswan Color ra đời vào 30/12/200 tại Nhật và tương đối thành công. Nguyên bản của WonderSwan Color chỉ có màn hình đơn sắc. Thế nhưng WonderSwan Color có kích thước dài và nặng hơn so với bản gốc của nó (dài hơn 7mm và nặng hơn 2g), được trang bị bộ nhớ 512K và màn hình LCD màu, lớn. Ngoài ra, WonderSwan Color hoàn toàn tương thích với những game trên WonderSwan trước đây.

    Trước khi WonderSwan ra đời, Nintendo độc chiếm thị phần máy game cầm tay tại thị trường Nhật Bản. Nhưng sau khi có sự góp mặt của WonderSwan, Bandai nhanh chóng chiếm được 8% thị phần béo bở này tại Nhật nhờ chính sách giá rất hợp lý (6800 yen, khoảng 65 USD/máy).

    Một lý do khác khiến WonderSwan giành được thành công tại Nhật là nhờ vào sự thỏa hiệp giữa Bandai với Squaresoft trong việc chuyển phiên bản gốc của Final Fantasy trên hệ Famicom sang, đồng thời cải thiện thêm về đồ họa và chỉnh sửa cách điều khiển cho phù hợp. Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực kể trên, sự phổ biến của Game Boy Advance cùng với việc dàn hòa giữa Nintendo và Square Enix sau vụ Final Fantasy VII, WonderSwan Color cũng dần khuất bóng như các anh tài khác.

    Xoay quanh ba nhân vật gồm chú lùn Gilius Thunderhead, nữ chiến binh Ax Battler và hiệp sĩ Tyris Fla,Golden Axe là game hành động đi cảnh rất nổi tiếng của Sega. Cha đẻ của Golden Axe là Makoto Uchida đồng thời cũng là người tạo ra Altered Beast. Xuất hiện 1989, Golden Axe đã trở thành hiện tượng thời bấy giờ với chất lượng hình ảnh cực kỳ bắt mắt và cách chơi hấp dẫn. Lý do đó khiến Golden Axe thường có mặt để quảng bá cho các console của Sega như Mega Drive/Genesis, Sega Master System. Hiện phiên bản mới của Golden Axe dành cho “next-gen console” đang được xúc tiến.

    Front Mission là tên của xê-ri game chiến thuật theo lượt dàn dựng bởi Toshiro Tsuchida, giám đốc kiêm chủ nhiệm của Square Enix. Phiên bản đầu ra mắt năm 1995 trên nền máy SNES, sau được chuyển qua WonderSwan Color (2002), Play Station (2003) và sắp tới là Nintendo DS, xê-ri trên đã giành được nhiều thành công đáng kể sau hơn 10 năm xuất hiện và trải qua 5 phiên bản khác nhau.

    Trong game người chơi sẽ điều khiển những mecha khổng lồ với tên gọi “Wanzers” (chữ Wanzers từ tên tiếng Đức “Wanderung Panzer” ra, hay theo tiếng Anh là walking tanks).

    Sơ lược về Bandai - hãng thiết kế Wonderswan Color

    Bandai Co., Ltd. được sáng lập vào năm 1950 tại Nhật Bản và được biết đến khá nhiều với vai trò là nhà phát triển các trò chơi điện tử, tượng các nhân vật,... dựa theo các phim hoạt hình anime hay truyện tranh nổi tiếng như Daikaiju, Ultraman, Super Robot, Gundam,... Sau này hãng sát nhập với Namco - nổi tiếng trong lĩnh vực video game, Bandai Co., Ltd. nay là công ty con trực thuộc Namco Bandai Holdings Inc. (thành lập vào 19/09/2005).

    Bandai có khá nhiều công ty con được phân thành nhiều nhánh khác nhau:

    Bandai Visual, Co. Ltd. chuyên sản xuất và phân phối nhiều tựa anime nổi tiếng và các tokusatsu (nghĩa tiếng Việt là hiệu ứng đặc biệt, ám chỉ những sản phẩm giải trí sống sử dụng nhiều hiệu quả đặc biệt). Những tựa trên bao gồm Cowboy Bebop, Big O, Outlaw Star,... Logo của Bandai Visual là các tượng đá Moai hình mặt người được tìm thấy trên đảo Phục Sinh Easter Island.

    Bandai America là chi nhánh phân phối tại Mỹ của Bandai, chuyên làm các đồ chơi, phát hành game cho Bandai, và các tựa anime nổi tiếng của Bandai Visual hay các studio chuyên về anime khác cho thị trường Mỹ.

    Bandai Games chuyên sản xuất và phát hành video game dựa trên các sản phẩm nổi tiếng của Bandai như Mobile Suit Gundam: Zeobuc Front, Gundam Wing: Endless Duel và Mobile Suit Gundam: Journey to Jaburo. Bandai Games hiện có văn phòng tại Mỹ.

    Carddass là nhánh con của Bandai chịu trách nhiệm phát hành các “trading card games” dựa trên các sản phẩm của Bandai, có thể kể đến Gundam War Collectible Card Game dựa trên xê-ri Gundam hay Gash Bell (Zatch Bell!), Ranger Striker (Sentai).

    Đặng Khánh

    ID: G0612_71