• Thứ Năm, 17/04/2008 07:05 (GMT+7)

    Ý nghĩa các tựa game (phần 1)

    Ngoài việc đầu tư cho hình ảnh, âm thanh, cách chơi, chiến dịch tiếp thị rầm rộ... yếu tố không kém phần quan trọng góp phần thúc đẩy doanh số của một tựa game chính là tên gọi phải thật hấp dẫn, dễ gây chú ý, thậm chí là... kỳ quặc! Đã bao giờ bạn thắc mắc tên trò chơi mà mình yêu thích được nhà sản xuất đặt có ý nghĩa ra sao.

    The Orange Box

    Ban đầu, Valve có ý định phát hành hai phiên bản khác nhau là The Black Box (Half Life Episode Two, Portal và Team Fortress 2) và The Orange Box (tương tự The Black Box nhưng kèm thêm Half Life 2 và Half Life 2 Episode One). The Black Box được dự tính sẽ có giá bán thấp hơn 10 $ so với The Orange Box và chỉ dành riêng cho các game thủ trên PC. Đột nhiên, Valve bỗng đổi ý và quyết định The Black Box sẽ không có mặt tại thị trường bán lẻ mà chỉ dành riêng cho ai mua card đồ họa ATI Radeon HD 2900 XT – thông qua thỏa thuận giữa ATI (nay thuộc sở hữu của AMD) và Valve. Theo đó, những ai mua card đồ họa ATI Radeon 2900 XT sẽ được tặng kèm phiếu cho phép tải về miễn phí toàn bộ bản The Black Box.

    Tuy nhiên, quyết định này của Valve bị nhiều game thủ phản đối. Những người đã sở hữu bản Half Life 2 và Half Life 2 Episode One cho rằng mình phải miễn cưỡng mua lại những trò chơi đã sở hữu (vốn được tích hợp sẵn trong bộ The Orange Box). Valve quyết định đưa ra hướng giải quyết là cho phép những game thủ trên gửi tặng những bản game đã sở hữu cho người quen trong danh sách Steam Friends (người được gửi sẽ được phép download những bản game trên). Nhưng cách giải quyết này vẫn chưa được “thấu đáo” khi có không ít game thủ sở hữu Half Life 2, Half Life Episode One, The Orange Box và card đồ họa ATI Radeon HD 2900 XT phàn nàn về cách làm việc nhập nhằng của Valve.

    Cho đến nay, Valve vẫn từ chối bình luận lý do vì sao họ không phát hành riêng bản The Black Box cho thị trường bán lẻ. Nhiều chuyên gia cho rằng Valve chơi chiêu bài này để cải thiện doanh thu từ sản phẩm. Mặt khác, Valve muốn các “thượng đế” của mình không bị bối rối khi phải lựa chọn nhiều sản phẩm có nội dung na ná nhau.

    Black Box cũng chính là tên gọi chiếc hộp đen có trên máy bay để ghi lại toàn bộ diễn tiến trong những giây phút cuối cùng trước khi máy bay gặp nạn, giúp cho việc điều tra, xác định nguyên nhân sau này. Hơn nữa, màu cam vẫn nổi bật và bắt mắt trong những tình huống khẩn cấp hơn màu đen. Phải chăng đó là lý do chúng ta có The Orange Box? Mặt khác trong tiếng Anh, từ này dường như còn gợi nhớ đến loại thiết bị giả danh số điện thoại.

    Syphon Filter
    Nghĩa đen của siphon filter là một cái gì đó có tác dụng sàng lọc những đối tượng hoặc vật khác ra ngoài. Trong game, đây là một loại virus cực kỳ nguy hiểm, có thể lập trình “tùy biến” để tấn công bất kỳ loài sinh vật nào trên hành tinh và không tác động hoặc ảnh hưởng đến các loài sinh vật khác. Việc đổi “i” thành “y” như tựa game có lẽ nhà sản xuất Eidetic cho rằng cách viết Syphon Filter ổn hơn so với Siphon Filter; không kể một số người cho rằng viết “y” vẫn “sốc” hơn.

    Katamari Damacy
    Theo tiếng Nhật, Katamari Damashii có nghĩa là hội tụ linh hồn, hay tập hợp tinh thần, giống như tinh thần đồng đội có thể giúp một nhóm người vượt qua được mọi thứ. Cái tên này rất hợp với nội dung của trò chơi, bởi trong game bạn phải dùng quả cầu “katamri” để hút tất cả các đồ vật, sinh vật nhằm để tạo nên các tiểu hành tinh, chòm sao hoặc giúp đỡ các nhân vật trong game như gom nhặt đom đóm để thắp sáng cho cậu học sinh nghèo, vỗ béo cho đấu sĩ sumo.

    Final Fantasy
    Năm 1986, Square chính thức trở thành một doanh nghiệp độc lập với tên Square Co., Ltd. Những năm này, hãng tung ra khá nhiều game, hầu hết đều dành cho hệ máy Famicom (hay NES) của Nintendo. Mặc dù không phải là những sản phẩm tồi nhưng những tựa game lúc bấy giờ của Square như 3-D WorldRunner, Rad Racer hay King’s Knight đều thất bại thảm hại về doanh thu. Lâm vào tình trạng thua lỗ nặng nề, hãng game non trẻ và nhỏ bé của Sakaguchi đứng trên bờ vực phá sản vào năm 1987.

    Không cam chịu đứng nhìn tâm huyết của mình phải đổ sông đổ biển, Sakaguchi quyết định đi một nước cờ liều. Ông dồn hết vốn liếng và nhân lực của công ty phát triển một trò chơi cuối cùng. “Được ăn cả, ngã về không”, số phận của trò chơi này sẽ quyết định luôn số phận của Square. Nếu game bán chạy, công ty sẽ được hồi phục, còn nếu lại thất bại, coi như tên tuổi của Square sẽ bị xóa khỏi ngành công nghiệp game.
     
    Băn khoăn chưa biết nên làm game gì, Sakaguchi để ý đến một tựa game đang rất thành công lúc bấy giờ, đó là trò chơi nhập vai Dragon Quest (hay Dragon Warrior tại Mỹ) của hãng Enix. Vậy là ông quyết định làm một trò chơi nhập vai, mang phong cách tương tự như Dragon Quest. Dựa trên nền tảng của Dragon Quest, Sakaguchi quyết định cải tiến thêm, đưa vào một cốt truyện thần thoại đặc sắc, hấp dẫn cùng lối chơi mang tính phong phú, linh hoạt cao. Ý thức đây có thể là nỗ lực làm game cuối cùng của mình, Sakaguchi đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là Final Fantasy.

    Điều kỳ diệu cuối cùng cũng đã xảy ra, Final Fantasy (FF) ngay lập tức trở thành một “hit lớn” khi được tung ra vào năm 1987. Điều này thậm chí vượt quá sự mong đợi của Sakaguchi. Ông thừa nhận mình đã cảm thấy vô cùng kinh ngạc trước thành công không ngờ của trò chơi. Tuy nhiên, đối với giới game thủ và phê bình, thành công của FF hoàn toàn có thể hiểu được khi trò chơi giới thiệu một lối chơi sáng tạo dễ nắm bắt, cốt truyện phức tạp nhiều tình tiết, cùng với phần nhạc nền hết sức tuyệt vời. Ngoài ra, việc phát hành trên Famicom, hệ máy console phổ biến nhất lúc bấy giờ, cũng góp phần không nhỏ vào thành công vượt bậc của FF. Vậy là, Square đã chính thức thoát khỏi “bản án tử hình”. Cho đến nay Final Fantasy là sêri game nhập vai thành công nhất mọi thời đại với hơn 75 triệu bản bán ra trên toàn thế giới.

    Dead or Alive
    Năm 1996, hãng game Tecmo gặp khó khăn về tài chính khi doanh số bán ra từ các sản phẩm của hãng khá nghèo nàn. Trước tình thế này, chàng lập trình viên của hãng lúc bấy giờ là Tomonobu Itagaki được giao nhiệm vụ phải tạo ra được một tựa game “đỉnh” để thúc đẩy doanh thu của hãng. Trước canh bạc lớn này, Tomonobu Itagaki quyết định lấy tên sêri game đối kháng mà mình dồn nhiều tâm huyết nhất là “Dead or Alive” (Chết hay sống). Và số phận đã mỉm cười với Tecmo lẫn Tomonobu Itagaki. Hiện nay Dead or Alive cũng là một trong những sêri game đối kháng được ưa chuộng nhất và được chọn làm môn thi đấu chính thức tại World Cyber Games 2005 (DOA Ultimate), 2006 và 2007 (DOA 4).

    Tetris
    Tháng sáu năm 1985, Alexey Pajitnov – đang làm việc cho trung tâm Điện Toán Dorodnicyn thuộc viện Khoa Học Liên Xô cũ ở Moscow đã phát triển trò chơi xếp hình Tetris bằng ngôn ngữ Pascal trên một chiếc máy tính Electronica 60, vốn chỉ có bộ nhớ 32KB (bản thân game cũng chỉ có dung lượng 27KB). Ông mất 2 tuần để viết bản đầu tiên, đó là chưa kể đến những thứ phụ như thanh ghi điểm chỉ được đưa vào sau này. Alexey Pajitnov - tác giả của Tetris - cho biết tên trò chơi của mình được ghép từ chữ “tetra” (trong Hy Lạp nghĩa là tiền tố số 4), ám chỉ các viên gạch trong game được ráp từ bốn ô vuông bằng nhau; và chữ “tennis” chính là môn thể thao mà ông rất thích.


    Super Mario Bros
    Mario được lấy từ tên của người chủ đất có tên Mario Segale cho Nintendo thuê đất ở Mỹ khi hãng này mới sang đây lập nghiệp. Jumpman (tên khai sinh của Mario) thường đội mũ đỏ và có râu mép rất giống với Mario Segali. Đây là lý do vì sao Jumpman được đổi tên thành Mario và những cuộc phiêu của chàng thợ ống nước Mario cũng bắt đầu từ đó.

    VỸ ĐIỆP
     

    ID: G0804_99