• Thứ Ba, 21/01/2014 10:04 (GMT+7)

    Nền tảng thứ 3 & những cơ hội tiếp theo

    Phí Anh Tuấn
    Quá trình phát triển của CNTT đang được định nghĩa bước sang nền tảng thứ ba với hệ thống mạng xã hội phát triển vượt bậc, thiết bị tính toán tính di động tràn ngập, mức độ dữ liệu tăng nhanh, các hệ thống máy tính chủ được kết nối bằng công nghệ ảo hóa để hình thành các đám mây dữ liệu. Tất cả đang làm thay đổi phương thức giao tiếp, kinh doanh, dịch vụ…

    Nền tảng thứ 3 trong quá trình phát triển của công nghệ thông tin
    Nền tảng thứ nhất được xây dựng trên máy tính main-frame với các thiết bị đầu cuối (terminal) mà đặc trưng của nó là những tòa nhà máy chủ đồ sộ phục vụ cho hàng ngàn người sử dụng thông qua các chương trình ứng dụng được phát triển bởi những chuyên gia. Nền tảng thứ hai đánh dấu bởi xu hướng cá nhân hóa với máy tính cá nhân (PC) và các nhóm làm việc trên mạng LAN và sau đó là trên mạng Internet với các giải pháp phát triển dạng khách  chủ Client/Server phục vụ cho hàng triệu người  dùng Internet mang lại một môi trường lý tưởng cho hình thành một nền tảng mới, giúp hàng tỷ người trên trái đất có thể kết nối giao tiếp với nhau. Việc hình thành lưu trữ, chia xẻ dữ liệu không còn là đặc quyền riêng của “giới công nghệ”. Các hệ thống mạng xã hội dạng Facebook, Twister, Zing .. phát triển vượt bậc, kèm theo đó làm thay đổi phương thức giao tiếp, kinh doanh, phục vụ…  Máy tính bảng, điện thoại thông mình đưa việc khai thác sử dụng mang tính di động.  Mức độ dữ liệu tăng nhanh, các hệ thống máy tính chủ được kết nối bằng công nghệ ảo hóa để hình thành các đám mây dữ liệu. Đây được coi là nền tảng thứ ba trong cách mạng công nghệ thông tin.

    Có rất nhiều vấn đề liên quan đến công nghệ, dữ liệu, ứng dụng trên nền tảng thứ ba. Tuy nhiên theo đánh giá của nhiều tổ chức tư vấn đánh giá độc lập các lĩnh vực sau sẽ là xu hướng tác động mạnh mẽ đến việc ứng dụng CNTT cho doanh nghiệp gồm: Điện toán đám mây (Cloud computing), Di động hóa (Mobility); Dữ liệu siêu lớn (Big data); Mạng xã hội (Social network) và Internet của sự vật (Internet of Thing).

    Các phân tích dành cho điện toán đám mây là rất tích cực. Nếu như trước đây tồn tại câu hỏi liệu điện toán đám mây có mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp hay không thì hiện  nay được chuyển thành “Bao giờ doanh nghiệp chuyển hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin hiện tại lên đám mây”. Điện toán đám mây gần như thay đổi hoàn toàn cách tiếp cận từ khái niệm  đầu tư từng dụng CNTT tại doanh nghiệp thành chi phí vận hành thông qua thuê – Doanh nghiệp có thể thuê dịch vụ hạ tầng (IaaS – Infatructure as services), thuê nền tảng PaaS (Platform as Services) và ứng dụng phần mềm (SaaS – Software as Services). Mô hình dưới đây minh họa  các phạm vi ứng dụng điện toán đám mây trong doanh nghiệp.

     

    Phạm vi ứng dụng điện toán đám mây trong doanh nghiệp
    Mức độ khai thác các lĩnh vực kinh doanh trên mạng xã hội ngày càng tăng

     

    Các mạng xã hội với mục tiêu ban đầu chia xẻ thông tin cá nhân với nhau đã trở thành cộng đồng với hàng tỷ người tham dự. Tiếp cận và khai thác cộng đồng người sử dụng mạng xã hội đang là chiến lược của nhiều doanh nghiệp. Trong tương lai doanh nghiệp sẽ khai thác mạng xã hội để thiết lập các kênh phân tích thị trường giúp định hướng sản xuất sản phẩm phù hợp. Đổi hẳn các chiêu thức tiếp thi truyền thống sang Digital Marketing sử dụng hiệu ứng Viral tăng hiệu quả và giảm chi phí tiếp thị cũng như thay đổi cách bán hàng và dịch vụ hỗ trợ khách hàng phù hợp với cộng đồng ảo trên mạng xã hội.

    Các điều tra từ tổ chức tư vấn độc lập cho thấy khai thác  trên mạng xã hội là các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, thương mai điện tử, du lịch, tài chính, công nghiệp trang điểm, rượu beer, hàng không, thời trang… Tốc độ tăng trưởng các fan page trong các lĩnh vực trên nằm trong khoảng 28% - 12% . Số lượng fan cho các fan page tăng trưởng tương ứng là 19%- 4% (nguồn Socialbakers 2012) và đang tiếp tục phát triển cho các lĩnh vực sản xuất-kinh doanh- dịch vụ khác. 

    Số lượng điện thoại thông minh, máy tính bảng và laptop được sản xuất ra mỗi ngày tăng lên nhanh chóng. Sự phát triển mạnh mẽ điện thoại thông minh và mạng truyền thông không dây tốc độ cao dành cho điện thoại di động 4G LTE giúp các nhà sản xuất thiết bị di động có thể triển khai thiết bị và sản phẩm của mình hướng tới khách hàng doanh nghiệp khai thác các ứng dụng trong quản lý, an ninh, khai thác và phân phối nội dung số. Tính toán dự báo cho thấy nếu như số lượng sản phẩm máy tính để bàn, máy tính xách tay cung cấp ra thị trường khá ổn định và vào khoảng 100 triệu sản phẩm/ năm. Trong khi đó số lượng điện thoại thông minh từ 600 triệu sản phẩm năm 2013 lên đến 850 triệu sản phẩm vào năm 2016, tương ứng là 500 triệu sản phẩm năm 2013 lên tới 910 triệu sản phẩm năm 2016 đối với máy tính bảng (nguồn IDC’ Asia Pacific  – 2013). Việc người dùng sử dụng thiết bị di dộng cho khai thác công việc công ty, sử dụng cho mục đích cá nhân cũng tăng nhanh. Bảng phân tích dưới đây đây cho biết tỷ trọng  thời gian sử dụng thiết bị di động hàng ngày cũng như trong công việc.

    Với số lượng thiết bị di động tăng trưởng mạnh mẽ, trong tương lai sẽ hình thành một giải pháp sinh thái (ecosystem) di động cho doanh nghiệp đi từ: hạ tầng – giải pháp lớp giữa middleware – anh ninh hệ thống – kết nối – thiết bị di động - ứng dụng trên thiết bị di động – người sử dụng đầu cuối. Đây là cơ hội cho các đơn vị cung ứng từ sản xuất, cung ứng, vận hành và tích hợp hệ thống và là một thị trường mới mẻ và rất lớn.

    Kể từ khi dịch vụ tin nhắn SMS, dịch vụ chia xẻ hình ảnh, dịch vụ chia xẻ hình video trên youtube, trao đổi trên mạng xã hội như Facebook Twister, các dịch vụ thương mại điện tử e-commerce... trở nên thông dụng, ngoài các phương thức tổ chức dữ liệu có cấu trúc truyền thống (SQL) các dạng dữ liệu dữ liệu phi cấu trúc noSQL và dữ liệu quan hệ RDBMS hình thành và tăng trưởng dường như không có giới hạn. Nếu như năm 2013 tổng dung lượng dữ liệu này vào khoảng 4000 Exabyte thì vào năm 2016 sẽ là 10.000 exabyte , 20.000 Exabyte trong năm 2018 và 40.000 Exabyte năm 2020. Đó có thể là dữ liệu quan hệ Relational Data tuyền thống (Tables/Transaction/ dữ liệu dạng SQL), dữ liệu dạng văn bản trên web. Đó có thể là dữ liệu dạng bán cấu trúc XML hoặc dữ liệu dạng đồ thị, hình ảnh, âm thanh được hình thành bởi Social Network, Semantic Web (RDF). Trong kho dữ liệu siêu lớn này, theo đánh giá của các chuyên gia các thông tin có ích cho doanh nghiệp để xử lý phân tích phục vụ cho mục đích của mình chiếm khoảng 23% . Tuy nhiên hiện nay thực tế việc khai thác phần dữ liệu có ích này cho doanh nghiệp mới chỉ chiếm 3% và các dữ liệu đã được xử lý phân tích phục vụ mang lại lợi ích trực tiếp cho doanh nghiệp mới đạt một tỷ lệ khiêm tốn là 0,5% ( nguồn IDC Universe Study – tháng 12/2012). Phân tích chỉ ra tiềm năng của dữ liệu siêu lớn phục vụ cho mục đích của doanh nghiệp rất lớn.

    Khai thác dữ liệu siêu lớn big data đang là định hướng chiến lược của rất nhiều tập đoàn, công ty nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường. Với big data phương thức tiếp cận và điều hành của doanh nghiệp có những thay đổi khá nền tảng và được minh họa bởi mô hình như sau.

    Rất thiếu sót nếu như không đề cập đến thiết bị máy móc hạ tầng phục vụ cho các nền tảng đã nêu ở trên. Các công nghệ cho phép kết nối máy tính – máy tính (M2M) trước đây chủ yếu phục vụ cho lĩnh vực công nghiệp, năng lượng và chưa thật gần gũi với những người sử dụng đầu cuối. Với sự phát triển mạnh mẽ của Internet và các công nghệ liên quan đến khai thác Internet bức tranh đang được thay đổi lại toàn bộ. Xuất hiện các ngôi nhà thông minh với các thiết bị gia dụng được điều khiển bởi gia chủ bằng smartphone thông qua môi trường Internet. Chúng ta có thể điều chỉnh sản lượng dùng điện tiết kiệm nhất, kinh tế nhất nhờ giao tiếp giữa công tơ điện tử với máy tính bảng. Xuất hiện những con đường thông minh giao tiếp với xe ô tô giúp cho giảm thiểu tai nạn, kẹt xe. Và như một lẽ tất yếu từ giao tiếp M2M sẽ được chuyển dần sang Internet của sự vật - Internet of thing (IoT).

    Thị trường IoT sẽ bùng nổ trong những năm tới, doanh số năm 2012 trong lĩnh vực này mới chỉ là 0,6 trillion USD và sẽ tăng trưởng lên 1,8 Trillion USD. Đánh giá của Gartner cho thấy phần lớn các Giám đốc CNTT của doanh nghiệp hiểu được sự tác động của IoT đến doanh nghiệp mình thông qua việc lượng định hơn 70%  các doanh nghiệp lãnh đạo sẽ đảm nhiệm tất cả các phần được kết nối qua môi trường Internet. Sẽ hình thành các quy trình mới, các thông tin chi tiết, các mô hình kinh doanh mới như chuỗi cung ứng số hoá, các phương thức điều hành theo cảm nhận và điều khiển, tính thuế và bảo hiểm theo sử dụng và từ đó hình thành các dịch vụ thông tin đô thị – Đô thị thông minh thông qua một làn sóng ứng dụng mới

    Khai thác nền tảng thứ 3 và doanh nghiệp Việt Nam
    Việt Nam và ngành CNTT Việt Nam không đi chậm quá so với mặt bằng chung của thế giới. Internet Việt Nam với sự tập trung đầu tư của chính phủ đang được coi là phát triển nhanh so với các nước khu vực. Chất lượng đường truyền Internet đạt mức cao, số lượng người sử dụng Internet đạt đến 30,55 triệu thuê bao với tỷ lệ 35,07 người/100 dân là một lượng người dùng rất tiềm năng cho các khai thác ứng dụng sử dụng nền tảng thứ ba.

     

    Big data và data phương thức tiếp cận và điều hành của doanh nghiệp
    Sự chuyển tiếp từ (M2M) sang IoT sẽ tạo ra một làn sóng mới của ừng dụng

     

    Việt nam và các doanh nghiệp CNTT tiếp thu nhanh các công nghệ mới của thế giới. Hình thành các đơn vị cung cấp dịch vụ Cloud trong đó hiện đang tập trung khai thác dịch vụ hạ tầng IaaS. Đã có nhiều đơn vị phần mềm đầu tư nghiên cứu và phát triển các ứng dụng dạng SaaS và đưa vào kinh doanh. Kết quả đạt được ban đầu là khả quan. Nhiều cơ quan chính phủ lựa chọn mô hình đám mây riêng/cộng đồng cho các dự án xây mới trung tâm THDL hoặc cho môi trường phát triển/kiểm thử tại các Bộ ban ngành: MONRE, MOST, MIC, tại các địa phương TPHCM, Đà Nẵng, Cà Mau, Phú Yên. Các cơ sở đào tạo cũng đã đưa điện toán đám mây vào vào đào tạo và cung cấp dịch vụ  như ĐHBK TPHCM, ĐH CNTT TPHCM. Các khách hàng đầu cuối cũng hoạch định lộ trình sử dụng điện toán đám mây riêng như là một bước phát triển tiếp theo của ảo hóa đặc biệt là khối ngân hàng đang tiên phong triển khai việc sử dụng này.

    Việt Nam cũng là nước có tỷ lệ người dùng mạng xã hội Facebook có thứ hạng cao trên thế giới tính đến tháng 8/2013 Việt Nam có 19.600.000 người dùng Facebook chiếm 21,42% tỷ lệ dân số. Số người sử dụng Facebook ở Việt Nam đã tăng 21,42%. Hiện Việt Nam là nước đứng thứ 16 trên thế giới về tỷ lệ tăng trưởng lượng người sử dụng Facebook tính đến tháng 7/2013. Việt Nam cũng là một trong những thị trường nóng nhất trên thế giới về Smartphone và máy tính bảng – Hơn 35% người sử dụng Internet ở Việt Nam dùng điện thọai di động để kết nối mạng xã hội và tỷ lệ này tăng liên tục. Mức độ hiệu quả của các chương trình quảng cáo trong chiến dịch Facebook Ads luôn ở mức hàng đầu thế giới (Nguồn: Socialbakers & SocialTimes.Me – 2013 ).

     

    Về tác giả: Ông Phí Anh Tuấn có 25 năm làm việc trong lĩnh vực xây dựng hệ thống thông tin tin học hóa quản lý doanh nghiệp với kinh nghiệm lập trình, phân tích thiết kế hệ thống, triển khai giải pháp doanh nghiệp; hiện là Giám đốc điều hành tại công ty tư vấn CNTT PAT Consulting Ltd. 
    Email: tuan.phi@patconsulting.vn
    Mobile: (+84)903 944 850

    Nếu như các giải pháp cho điện toán đám mây, mạng xã hội, di động hóa được phát triển nhanh ở Việt Nam thì Big data và IoT vẫn còn rất mới. Các khái niệm này hiện nay mới chỉ được giới chuyên môn và học thuật biết đến. Đối tượng sử dụng và khách hàng đầu cuối cũng chưa có các hiểu biết về lĩnh vực này.

    Việt Nam cũng đã khá sẵn sàng cho đón nhận và khai thác nền tảng thứ ba. Môi trường thuận tiện nhưng để khai thác tốt xu hướng nền tảng này cần phải chú ý đến một số yếu tố như nên hình thành các luật và văn bản dưới luật về pháp lý liên quan đến bảo vệ thông tin cá nhân, thông tin doanh nghiệp. Các quy định về khai thác và sử dụng thông tin phù hợp với luật định Việt Nam có tính đến các thông lệ quốc tế.  Các doanh nghiệp cung cấp giải pháp cần có những phối hợp hợp tác quốc tế để hoặc tự xây dựng hoặc tiếp nhận chuyển giao công nghệ để triển khai ứng dụng tại thị trường Việt Nam.

    Về cộng đồng doanh nghiệp sử dụng đầu cuối, việc quan trọng nhất là thay đổi nhận thức để tiếp nhận sử dụng các công nghệ mới cho hoạt động sản xuất-kinh doanh- dịch vụ của mình. Đây là yếu tố quyết định để doanh nghiệp sớm khai thác những điểm mạnh của CNTT nền tảng thứ ba giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.

    PC World VN, 01/2014

    ID: A1401_69