• Thứ Hai, 12/01/2004 08:21 (GMT+7)

    Hệ Điều Hành Linux, hạt nhân của Phần Mềm Nguồn Mở: Một chút lịch sử

    Ra Đời

    Người được coi là ông tổ của PMNM là Richard Stallman. Làm việc tại phòng thí nghiệm Trí Tuệ Nhân Tạo của học viện MIT (Hoa Kỳ), Stallman là người đầu tiên thấy được sức mạnh của các phần mềm “tự do”. Ý tưởng của ông là: không giống như các sản phẩm khác, phần mềm cần được giải thoát khỏi những hạn chế về quyền sao chép hay chỉnh sửa để có thể tạo nên những chương trình máy tính hiệu năng hơn. Chính ông là người tạo ra giấy phép nguồn mở GNU - viết tắt là GPL (General Public License), nhằm bảo vệ quyền cho phép bất kỳ ai cũng có thể sử dụng, sửa đổi và phân phối lại mã nguồn của chương trình gốc và các chương trình dẫn xuất.

    Khái niệm về mã nguồn mở được Richard Stallman nêu ra từ những năm 1970, nhưng nó chỉ thực sự trở nên một khuynh hướng rõ rệt khoảng từ năm 1991, sau khi hệ điều hành (HĐH) mã nguồn mở Linux ra đời. Dù bên cạnh Linux còn có các HĐH mã nguồn mở khác như NetBSD, FreeBSD (do Đại Học Berkeley, Hoa Kỳ phát triển), nhưng chỉ Linux là có được sự tham gia phát triển của cộng đồng quốc tế. Vậy Linux là gì và nó ra đời trong hoàn cảnh nào?

    Vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, DOS thống trị thế giới máy tính cá nhân rộng lớn. Được Bill Gates mua về từ một hacker vùng Seattle với giá 50.000 USD, HĐH xương xẩu này luồn lách khắp mọi ngõ ngách của thế giới người dùng nhờ chiến lược tiếp thị thông minh. Người dùng PC không có sự lựa chọn nào khác. HĐH Mac của Apple tốt hơn nhưng giá cao đến mức, khó ai có thể kham nổi, trở thành một “vật xa xỉ” đối với hàng triệu người dùng.

    Bộ mặt thứ hai của thế giới tính toán là Unix. Nhưng giá Unix cũng cao vời vợi. Mã nguồn Unix được giảng dạy tại những địa chỉ danh tiếng như Bell Labs, được bảo vệ nghiêm ngặt và không được công bố rộng rãi.

    Một yếu tố mới đã xuất hiện dưới dạng Minix. HĐH này được viết bởi Andrew S.Tanenbaum - vị giáo sư người Hà Lan, người muốn dạy sinh viên của mình mọi ngóc ngách bên trong HĐH. Minix được thiết kế để chạy trên các bộ vi xử lý 8086 của Intel lúc đó đã tràn ngập thế giới.

    Ở góc độ HĐH, Minix không phải là một sản phẩm siêu việt. Nhưng nó có lợi thế là mã nguồn được công khai. Bất kỳ ai có cuốn sách HĐH của Tanenbaum đều có thể nắm được 12.000 dòng lệnh viết bằng ngôn ngữ C và Assembly. Lần đầu tiên, một lập trình viên bình thường có thể đọc mã nguồn của HĐH, điều mà lúc đó các nhà sản xuất phần mềm bảo vệ rất nghiêm ngặt. Sinh viên khoa học máy tính trên khắp thế giới qua cuốn sách quý giá này hiểu được chính hệ thống điều hành hoạt động máy tính. Một trong những sinh viên như vậy là Linus Torvalds.

    Năm 1991, Linus Benedict Torvalds là sinh viên năm thứ hai khoa Khoa Học Máy Tính trường đại học Helsinki. Chàng trai tóc nâu 21 tuổi người Phần Lan này có giọng nói nhỏ nhẹ và thích làm chủ sức mạnh máy tính và những giới hạn mà hệ thống có thể đạt tới. Ngày 25 tháng 8 năm 1991, bức thư điện tử lịch sử của Linus được gửi tới nhóm tin Minix. Thư có đoạn: “Xin chào tất cả những người đang sử dụng HĐH Minix. Tôi đang xây dựng một HĐH miễn phí. Chỉ là sở thích thôi, không có quy mô lớn và chuyên nghiệp ... Dự án này tôi đã ấp ủ từ tháng 4/1991 và đang trong giai đoạn sẵn sàng... Tôi sẽ làm một cái gì đó mang tính thực tế trong vòng vài tháng tới. Tôi muốn biết là mọi người thích những tính năng nào nhất. Tôi hoan nghênh bất kỳ đóng góp nào của các bạn, duy chỉ có điều là tôi không hứa có thực hiện được chúng hay không” (torvalds@kruuna .helsinki.fi)

    Đây chính là thời điểm Linus hành động.

     

    ...Phát triển...

    Công việc cứ thế cuộn chảy. Hàng trăm, hàng ngàn rồi hàng trăm ngàn người tham gia vào đội quân Linux. Linux sẵn sàng cho một cuộc trường chinh, cho phép các mã nguồn được miễn phí trong sao chép, nghiên cứu và sửa đổi. Sinh viên và các lập trình viên như bắt được vàng với Linux.

    Các nhà sản xuất thương mại cũng ngay lập tức vào cuộc. Việc các công ty làm là biên dịch các phần mềm khác nhau và tập hợp lại trong một định dạng có thể phân phối được. RedHat, Caldera, Debian... đã có được lượng người dùng nhất định trên toàn cầu. Việc phân phối Linux trở nên hết sức phổ biến. Ngay như tập đoàn IBM từng là kẻ thù không đội trời chung với cộng đồng hacker mã nguồn mở nay lại bỏ ra những khoản đầu tư kếch xù vào các giải pháp dựa trên Linux mã nguồn mở. Những hạn chế và giới hạn của Linux đã, đang và sẽ được cả cộng đồng chung tay tháo gỡ.

    Bên cạnh PC, Linux cũng được đưa vào nhiều nền tảng khác nhau, như máy tính cầm tay PalmPilot của 3Com. Công nghệ liên kết cho phép số lượng lớn các máy tính Linux có thể được kết hợp vào một thực thể máy tính đơn nhất, chạy song song. Đặc biệt là khả năng kết chùm (clustering) của Linux cho phép ghép các máy PC giá thành thấp để tạo ra một siêu máy tính có tốc độ tính toán rất cao, khả năng của bộ nhớ cũng như dung lượng đĩa cứng được tăng lên nhiều lần (khả năng này chưa có ở các hệ thống Windows). Với 17 máy tính PC Pentium III hai CPU kết chùm qua Linux giá 150.000 USD, một số tác vụ có thể thực hiện nhanh tương đương với siêu máy tính CRAY giá 5 triệu USD .

    Linux cũng đã chứng minh được độ ổn định trước các cuộc tấn công vũ bão của virus CIH năm 1999 và virus I love You một năm sau đó.

    Nhưng tấm huy chương nào cũng có 2 mặt. Vậy thì đâu là sự than phiền lớn nhất về Linux? Trong quá khứ, Linux với giao diện ký tự kém thân thiện khiến mọi người e ngại sử dụng. Giao diện đồ hoạ của các phiên bản Linux mới nhất cũng chưa thể sánh với các phần mềm thương phẩm tương tự như Windows của Microsoft. Bên cạnh đó còn là sự hạn chế các tính năng ứng dụng...

    Tuy nhiên, điều tốt đẹp nhất của Linux ngày nay là sự kỳ diệu theo sau những dòng lệnh của nó. Bất kỳ một thiết bị phần cứng nào ra đời, nhân Linux đều có thể chỉnh sửa để tận dụng lợi thế. Chẳng hạn chỉ một vài tuần sau khi Intel giới thiệu bộ vi xử lý Xeon, nhân Linux đã được bổ ra và sẵn sàng cho việc khai thác bộ vi xử lý này. Linux cũng được khai thác ở các dòng máy Alpha, Mac, PowerPC và thậm chí cho cả Palmtops, một sức mạnh mà khó HĐH nào có thể đáp ứng được. Đó cũng là sự khác biệt hơn hẳn của một PMNM Linux so với các phần mềm mã nguồn đóng.

    Có lẽ sự thay đổi lớn nhất mà Linux mang lại là dành cho thế giới đang phát triển. Thời kỳ tiền Linux, các quốc gia đang phát triển luôn đi sau trong thế giới CNTT. Giá phần cứng liên tục giảm xuống, nhưng giá phần mềm lại luôn là một gánh nặng lớn đối với những tín đồ máy tính ít tiền của các nước thuộc thế giới thứ ba. Trong cảnh túng bấn, người ta đã phải làm cái điều mà nhiều người không muốn, đó là ăn cắp bản quyền các sản phẩm phần mềm (gây thiệt hại cho ngành công nghiệp phần mềm hàng tỷ USD mỗi năm). Giá HĐH Windows của Microsoft tối thiểu là 100 USD, nhưng thu nhập bình quân đầu người của các nước đang phát triển chỉ 200-300 USD/năm. Nhưng Linux và các sản phẩm mã nguồn mở liên quan đã thay đổi tất cả. Linux có thể chạy trên hầu hết các máy tính có cấu hình thấp, đây quả là sự thay thế hợp lý cho những người dùng máy tính thu nhập thấp.

     

    ...Và tương lai

    Qua một thập kỷ phát triển, Linux đã trở thành một trong những HĐH phát triển nhanh nhất trong lịch sử máy tính. Từ chỗ chỉ có một số tín đồ năm 1991-1992 tới hàng triệu người dùng Linux hiện nay,  chắc chắn đó là một chặng đường phát triển đáng kể.

    Điều thực sự gây ngạc nhiên chính là lớp lớp lập trình viên trên khắp thế giới, với lòng nhiệt huyết vô tận liên tục cải thiện các tính năng của Linux. Những nỗ lực phát triển như vậy không hề chìm trong sự hỗn loạn như lời buộc tội của những công ty kinh doanh phần mềm mã nguồn đóng. Ngay cả Steve Balmer, TGĐ Microsoft, cũng phải thừa nhận “Linux đã thực sự là mối đe doạ cho thị trường của Windows. Nó cũng là mối đe doạ chính của Microsoft Office”.

    Nguyễn Thành Lưu

    ID: B0301_36