• Thứ Hai, 12/01/2004 05:01 (GMT+7)

    Số phận Nghị Quyết 07 phụ thuộc năm 2003

    Trả lời phỏng vấn gần đây của phóng viên báo Lao Động về khả năng thực hiện các chỉ tiêu của Nghị Quyết số 07 của Chính Phủ về CNpPM (NQ 07), tiến sĩ Trương Gia Bình, TGĐ công ty FPT đã nói: “Với thực trạng hiện nay tôi nghĩ là không!”. Sau đó mấy ngày tôi gặp lại anh Bình với câu hỏi: “Nếu trong 2003 Bộ chịu trách nhiệm về CNTT mới được thành lập (Bộ BCVT) và Ban Chỉ Đạo 58 (BCĐ 58) mới được thành lập lại (do Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm trực tiếp làm trưởng ban) có những quyết sách chiến lược và chỉ đạo thực hiện quyết liệt như Thủ Tướng Võ Văn Kiệt trước đây đã làm với công trình đường 500KV thì các chỉ tiêu của NQ 07 có đạt được không?”. Anh Bình hồ hởi trả lời: “Hoàn toàn được! Chưa muộn! 2003 có thể là năm bản lề”, và cũng nhắc lại mệnh đề bắt đầu từ chữ “nếu” trong câu hỏi của tôi. Người Pháp thường hay nói đùa: “Với chữ “nếu”, ta có thể cho cả thành phố Paris vào lọ”. Nhưng trong trường hợp của chúng ta, hy vọng vào chữ “nếu” nói trên không phải là hoàn toàn viển vông, ngược lại chúng ta vẫn tin tưởng...

    Còn nhớ, khi thảo luận xây dựng NQ 07, con số gây tranh cãi nhiều nhất là doanh số CNpPM 500 triệu USD vào năm 2005; trong đó xuất khẩu (chủ yếu là gia công) là 200 triệu USD và phục vụ thị trường nội địa là 300 triệu USD. Trên cơ sở đăng ký tự nguyện một cách rất tự tin của các “hộ” lớn (VNPT - 200 triệu USD, TP. Hồ Chí Minh - 200 triệu USD, FPT - 200 triệu USD, An Ninh và Quốc Phòng - 200 triệu USD, và gần 100 triệu USD từ các hộ nhỏ khác), nhóm soạn thảo NQ đã căn cứ vào các con số thống kê về nhu cầu sử dụng và xuất nhập khẩu PM trong khoảng 5 năm trước và sau năm 2000, vào tiềm năng (đầy triển vọng) và khả năng thực tế (còn rất khiêm tốn) về nguồn nhân lực và khả năng tổ chức thực hiện, trừ hao đi khoảng 50% tổng doanh số được đăng ký, để giữ lại con số 500 triệu USD đưa vào chỉ tiêu của NQ.

    Cùng với chỉ tiêu có khoảng 25.000  kỹ sư và chuyên viên CNpPM, con số 500 triệu USD rất có ý nghĩa. Thứ nhất, nếu đạt được chỉ tiêu đó thì từ năm 2005 thực sự chúng ta có một ngành công nghiệp mũi nhọn, điển hình cho nền kinh tế mới - kinh tế tri thức dựa trên khoa học và công nghệ cao. Theo kinh nghiệm của các nước đang phát triển, bình quân mỗi người lao động trong lĩnh vực CNpPM  đạt khoảng 20.000 USD/ năm. Nếu có 25.000 người làm CNpPM chuyên nghiệp và tạo được đủ việc làm cho họ thì con số 500 triệu USD không phải là quá xa vời. Một ngành kinh tế mới với sản lượng trên 1% GDP có thể coi là đã “ra khỏi đường băng để cất cánh”! Thứ hai, nếu 300 triệu USD trên tổng số 500 triệu USD sản phẩm CNpPM được tiêu thụ ở thị trường trong nước thì có nghĩa là CNTT đã được ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả. Điều đó chứng tỏ các yếu tố của kinh tế tri thức đã thẩm thấu mạnh mẽ vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội và an ninh-quốc phòng.

    Tiếc thay, có một sự thật là sau hơn hai năm thực hiện NQ 07, thực trạng diễn ra đáng lo hơn là đáng mừng. Ngay từ đầu chúng ta đã xác định rằng chủ thể thực hiện NQ 07 chủ yếu là các doanh nghiệp CNpPM và cũng ngay từ đầu họ đã tỏ ra lạc quan với chính sách ưu đãi của Nhà Nước. Các doanh nghiệp CNpPM được thành lập khá nhiều, đến nay đã có khoảng 330 công ty. Cũng có gần 10 trung tâm CNpPM của các tỉnh, thành phố và các trường đại học đã đi vào hoạt động. Số người được đào tạo về CNpPM cũng tăng lên rõ rệt, đặc biệt là từ các khoa CNTT thuộc các trường đại học lớn, các trung tâm đào tạo có yếu tố nước ngoài như Aptech... và hệ thống sát hạch lấy chứng chỉ của các hãng lớn nước ngoài... Thế nhưng năm 2002 doanh số CNpPM Việt Nam chắc là chưa đạt được 100 triệu USD (năm 2001 là 60 triệu USD). Nhiều chuyên gia trong và ngoài nước dự đoán rằng, với đà phát triển “tằng tằng” như hiện nay, không cần có nỗ lực đáng kể nào, thì CNpPM của Việt Nam cũng đạt được chừng 200 triệu USD, tức là gần bằng một nửa chỉ tiêu của NQ 07.

    Nhưng điều chúng ta mong muốn cao hơn nhiều! Muốn hơn xa thì phải có những nỗ lực tột bực từ mọi phía: điều hành vĩ mô, hoạt động của các doanh nghiệp, mở rộng thị trường trong nước, thâm nhập thị trường nước ngoài. Các nỗ lực tột bực ấy phải được thực hiện ngay từ những ngày đầu năm 2003. Nếu không thì sẽ quá muộn, sẽ lỡ hết cơ hội xây dựng và phát triển một ngành công nghiệp đầy tiềm năng...

     Chúng tôi tin tưởng rằng vẫn là chưa quá muộn một khi BCĐ58 và Bộ BCVT, bắt đầu ngay từ những ngày đầu năm mới, ra tay như một Bộ Chỉ Huy Chiến Lược, chỉ đạo quyết liệt “Chiến dịch 07”. Xin được kiến nghị “Chiến dịch 07” tập trung vào một số điểm cốt lõi sau đây:

    1. Thông qua việc triển khai thực hiện Chỉ Thị 58, đặc biệt là các dự án tin học hoá các cơ quan của Đảng và Chính Phủ, Nhà Nước phải là khách hàng quan trọng nhất của CNpPM Việt Nam. Lấy việc phát triển và ứng dụng các phần mềm mã nguồn mở làm khâu đột phá.

    2. Chính Phủ trực tiếp đàm phán mở rộng các thị trường quốc tế quan trọng như Nhật, Mỹ và EU.

    3. Đảm bảo giá và chất lượng các dịch vụ Internet và viễn thông trở thành một lợi thế cho CNpPM Việt Nam chứ không còn là điểm yếu như hiện nay.

    4. Mở rộng hệ thống đào tạo kỹ sư và chuyên viên CNpPM theo các chương trình chuẩn mực quốc tế của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam để phục vụ nhu cầu nguồn nhân lực trong nước và xuất khẩu lao động có trình độ kỹ thuật cao.

    5. Có sự hỗ trợ đặc biệt đối với Hiệp Hội Doanh Nghiệp PM và các trung tâm CNpPM.

     Có thể nói một cách chắc chắn rằng số phận của NQ 07 sẽ được quyết định trong năm 2003. Thành hay bại phụ thuộc phần lớn vào các mệnh đề bắt đầu bằng chữ “nếu” viết trong bài này. Nhiều người trong cuộc chia sẻ với chúng tôi ý kiến đó, đặc biệt là anh Nguyễn Trọng, tổng biên tập PC World Vietnam, mới nhận trọng trách Chánh Văn Phòng BCĐ 58. Nếu BCĐ 58 và Bộ BCVT ra tay quyết liệt như một Bộ Chỉ Huy Chiến Lược thì Văn Phòng BCĐ 58 sẽ đóng vai trò Bộ Tổng Tham Mưu “Chiến dịch 07”. Viết đến đây tôi gọi điện thoại hỏi anh Trọng: “Anh có tin vào sự thành công ?”. Anh trả lời dè dặt: “Nhiều nhất là 50/50”. Tôi xin đặt niềm tin vào năm phần ăn của anh, còn năm phần thua xin Táo Quân hãy mang lên chầu Trời.

     

    Chu Hảo

    ID: B0302_8