• Thứ Hai, 12/01/2004 03:44 (GMT+7)

    Một góc nhìn từ phổ điểm 2002

    Ứng dụng CNTT hỗ trợ cải cách tuyển sinh năm 2002 vừa được VTV-1 và nhiều tờ báo xuân Qúi Mùi bình chọn là một trong mười sự kiện CNTT nổi bật nhất năm Nhâm Ngọ. PC World B số 10/2002 (“Xôn xao mùa tuyển sinh 2002”, trang 18) khi đề cập đến vấn đề này đã nhắc đến “một sản phẩm ngoài dự kiến” đặc biệt của CNTT. Đó chính là tập các phổ điểm được lập theo địa phương, theo trường THPT, theo khối thi và theo các trường đại học và cao đẳng (ĐH-CĐ) trong cả nước. Ở cuộc hội thảo bàn về cải cách tuyển sinh năm 2003 tại TP. Hồ Chí Minh (14/12/2002), GS-TS Phạm Duy Hiển khi bình các phổ điểm đã phát biểu: “Đây là toán học nói, CNTT nói chứ đâu phải chúng ta nói”. Vậy các phổ điểm của thí sinh 61 tỉnh thành đã nói gì?

    Xin nhắc lại một số thông tin của kỳ tuyển sinh ĐH-CĐ 2002: có 823.402 thí sinh dự thi; điểm trung bình của toàn bộ thí sinh là 8,4/30; số thí sinh đạt 13 điểm trở lên là 168.991, tương đương với số chỉ tiêu tuyển sinh là 168.000 người.

     

    Các phổ điểm nói gì về chất lượng thí sinh?

    Hai trung tâm văn hoá lớn nhất: chất lượng thấp và chênh lệch. Tại thủ đô Hà Nội và TP. HCM, phổ điểm cho thấy chất lượng thí sinh chưa cao, lại có sự phân hoá khá đậm giữa 2 nơi.

    Nhìn một cách tổng quát, phổ điểm của 46.537 thí sinh Hà Nội được phân bố khá đối xứng xung quanh đỉnh cộng hưởng 10,0 (là mức điểm có nhiều thí sinh đạt nhất). Còn hình dáng phổ điểm của 56.322 thí sinh TP.HCM làm ta kinh ngạc: nó vọt tiến từ 0 điểm đến đỉnh cộng hưởng 3,5 rồi giảm đều đến 24.



    Trả lời phỏng vấn trên báo Tuổi Trẻ tháng 10/2002, ông Trương Song Đức, giám đốc Sở GD&ĐT TP.HCM nói: “Không nên chỉ nhìn vào kết quả thi ĐH, CĐ vừa qua để đánh giá chất lượng THPT là yếu kém”. Dư luận cũng mong như vậy, nhưng ta giải thích thế nào về các thông tin bật ra từ bức tranh phổ điểm? Đó là vì các em học tủ, học lệch, hay vì các lò luyện thi “cấp tốc”, “đảm bảo đỗ” mọc lên như nấm khắp thành phố đã làm hại các em? Điều đáng lo ngại là ngay cả với kết quả tạm gọi là khả quan ở Hà Nội  thì chất lượng thí sinh vẫn chưa xứng tầm là trung tâm học vấn của cả nước.

     

    Tại 3 vùng kinh tế trọng điểm: khát vọng tiến thân như nhau, chất lượng khác xa nhau. Mở rộng việc xem xét ra 61 tỉnh thành trong cả nước, ta thấy các thí sinh được phân bố đồng đều về số lượng nhưng phân hoá về chất lượng. Nếu lấy số thí sinh trên 1.000 dân để so sánh, ngoại trừ một số tỉnh khó khăn ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc, các tỉnh còn lại đều có khoảng 10-12 thí sinh/1.000 dân. Điều này chứng tỏ mặt bằng dân trí và khát vọng tiến thân của thanh niên nước ta khá đồng đều giữa các vùng,  miền. Tuy nhiên, các phổ điểm lại cho thấy sự chênh lệch rõ nét về chất lượng thí sinh ở 3 vùng trọng điểm: đồng bằng sông Hồng, ven biển miền Trung và đồng





    bằng sông Cửu Long. Hãy lấy 3 tỉnh tương đối nghèo và hiếu học làm đại diện (Hà Nam, Thanh Hoá, An Giang). Về số lượng, cả 3 tỉnh đều có 12 thí sinh/1.000 dân. Tỷ lệ này cũng không hề thua kém Hà Nội và TP. HCM. Về chất lượng, Hà Nam có phổ điểm đẹp nhất, gần giống phổ điểm của Hà Nội; Thanh Hoá có phổ điểm kém hơn một chút so với Hà Nam; An Giang có chất lượng thí sinh rất đáng lo ngại, hình dạng phổ điểm gần giống với TP. HCM (lệch hẳn về phía trái) nhưng xấu hơn nhiều (đỉnh cộng hưởng ở 2,0)...

     Sự suy giảm về mặt bằng kiến thức phổ thông từ đồng bằng sông Hồng, qua ven biển miền Trung, đến đồng bằng sông Cửu Long là một thực tế cần báo động.

     

    Quan Niệm Xã Hội Về Nhu Cầu Với Các Ngành Học Và Công Tác Hướng Nghiệp: có vấn đề.

    Phổ điểm các khối thi A-B-C-D cho ta cơ hội nhìn nhận lại xu hướng xã hội về đánh giá nghề nghiệp và những lệch lạc trong công tác hướng nghiệp đối với học sinh THPT. Trong tổng số hơn 820 ngàn thí sinh, khối A (Toán–Lý–Hoá) chiếm hơn một nửa. Nếu tính cả khối B (Toán-Hoá-Sinh), số em dự thi các môn khoa học tự nhiên thuần túy gấp hơn 3 lần thí sinh khối C (Văn–Sử–Địa). Điều này được các chuyên gia ngành GD & ĐT giải thích: trên thực tế, do chính sách đãi ngộ hiện hành, các sinh viên ngành kỹ thuật và kinh tế quốc dân dễ tìm việc làm và có thu nhập cao hơn so với ngành khoa học xã hội và nhân văn chỉ ăn lương công chức. Nhưng có lẽ còn một lý do khác nằm ngay trong khâu đặt ra tiêu chí tuyển sinh. Tại cuộc hội thảo về tuyển sinh năm 2003 ở TP. HCM, một số giáo sư đã phê phán chúng ta quá đề cao tư duy toán học của thí sinh khi xét tuyển. Họ đưa ra ví dụ, các trường kinh tế không nhất thiết phải chọn các em giỏi toán, lý mà cần những em có kiến thức tổng hợp. Trên thực tế, một sinh viên có trình độ toán trung bình khá, nhưng giỏi về các môn khoa học xã hội, khi vào các trường kinh tế lại rất xuất sắc và lúc ra nghề nhanh chóng thành đạt. Hình như điều này giải thích vì sao Việt Nam ta đang ít chuyên gia kinh tế giỏi. Nhưng nguy hại hơn, sự lệch lạc ở khâu xét tuyển như trên đã vô tình kéo theo cả xu hướng xã hội, khiến học sinh THPT coi thường các môn khoa học xã hội. Sai lầm này còn dẫn đến một thực trạng phổ biến là nhiều sinh viên đại học các ngành kỹ thuật như Bách Khoa, Xây Dựng, Giao Thông... viết luận văn tốt nghiệp rất tối nghĩa, câu bất thành văn... Số thí sinh thi khối D (Văn-Toán-Ngoại ngữ) có sự hài hoà giữa khoa học tự nhiên và xã hội chỉ chiếm hơn 10%. Có lẽ các trường ĐH, CĐ khi định ra tiêu chí tuyển sinh cho các ngành học, cần nhanh chóng tìm giải pháp cân đối lại tỷ lệ thí sinh các khối A-B-C-D. Việc dạy và học các môn khoa học xã hội ở trường THPT cũng cần có sự đổi mới.

    Về mặt chất lượng thí sinh, nhìn vào các phổ điểm ta thấy khối A có đường biểu diễn xấu nhất, bị dồn ép về bên trái; khối B có khá hơn khối A một chút; phổ điểm ở hai khối C và D có sự phân bố đẹp hơn so với khối A và B. Đường biểu diễn ở khối C có dạng đối xứng qua đỉnh cộng hưởng 7,5, nhưng số em đạt 20 điểm trở lên rất ít, điểm trung bình toàn khối đạt 8,8. Phổ điểm khối D đẹp hơn khối C, có đỉnh cộng hưởng ở 8,5, tỷ lệ thí sinh đạt 20 điểm trở lên cũng nhiều hơn. Mặc dù có nhiều em đạt điểm cao nhờ môn ngoại ngữ, nhưng nhìn chung, khối D phản ánh năng lực

    và kiến thức của thí sinh hài hoà giữa tự nhiên và xã hội. Nên chăng, kể từ mùa thi 2003 ngày càng có nhiều ngành học, nhiều trường đại học cao đẳng tuyển sinh theo khối D? Còn khối A chỉ nên tập trung vào các trường đào tạo nghiên cứu cơ bản và các trường kỹ thuật đặc biệt cần đến tư duy toán, lý, hóa. Ngoài ra, các ngành này nếu có thể nên thi thêm ngoại ngữ làm điểm tham khảo khi xét tuyển, vì sự yếu kém ngoại ngữ của SV VN cũng đang là cản trở lớn trên con đường tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại, hoà nhập với thế giới.

     

    Tiếp Tục Cải Cách Tuyển Sinh Năm 2003 Từ Góc Nhìn Phổ Điểm

    Qua các tập phổ điểm, ta càng thấy rõ ý nghĩa to lớn của cải cách tuyển sinh năm 2002 theo phương án “3 chung” và việc ứng dụng CNTT xử lý kết quả thi. Nó nói lên nhiều điều bổ ích mà ngay cả các nhà CNTT ở Bộ GD & ĐT khi làm ra nó cũng chưa thể ngờ đến. Thiển nghĩ, kể từ mùa thi 2003, các tập phổ điểm phải được coi là một trong những chỉ báo thống kê quan trọng hàng năm của quốc gia.

    Để giải quyết những vấn đề vừa phân tích ở trên cần một kế hoạch tổng thể trong nhiều năm tới. Trước mắt, ở mùa tuyển sinh năm 2003, các phổ điểm gợi ý cho ta những việc cần làm ngay và hoàn toàn có thể làm được.

    Thứ nhất, hoàn thiện phần mềm tuyển sinh và củng cố lại hạ tầng CNTT phục vụ tuyển sinh. Các Sở GD & ĐT, các trường ĐH, CĐ cần có người chuyên trách về CNTT. Đội ngũ cán bộ làm CNTT phục vụ tuyển sinh cần được bồi dưỡng kịp thời cả về chuyên môn và ý thức kỷ luật cộng đồng khi nhập và truyền dữ liệu. Trong vấn đề này, việc đơn giản hoá bài toán cho phần mềm xét tuyển nguyện vọng của thí sinh là rất nên làm. (Một trong các hướng đó là: một nguyện vọng khi dự thi, và nguyện vọng tự do sau khi biết điểm.)

    Thứ hai, lựa chọn điểm sàn một cách khoa học để làm cơ sở xét tuyển. Điều này rất quan trọng vì nó đảm bảo chất lượng đầu vào cho các trường ĐH, CĐ, thực hiện công bằng xã hội và phân luồng cho các thí sinh dưới mức điểm sàn yên tâm chuyển sang học trung học chuyên nghiệp hoặc học nghề. Nhớ lại phổ điểm tổng thể của 820 ngàn thí sinh (xem PC World B số 10/02) ta càng thấm thía một bài học, nếu chọn điểm sàn là 13/30, sẽ có ngay sự cân đối giữa lượng thí sinh đạt từ 13 điểm trở lên với chỉ tiêu xét tuyển là 168 ngàn sinh viên. Vì mất phương hướng nên nhiều trường đưa ra điểm tuyển nguyện vọng bổ sung thấp, góp phần gây ra sự rối loạn trong xã hội, lãng phí tiền bạc của dân... Chọn điểm sàn hợp lý theo phổ điểm là một vấn đề nhạy cảm. Tuy nhiên, có thể và chỉ nên ưu tiên các trường đặc biệt khó khăn ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên được xét tuyển dưới mức điểm sàn cho một số diện thí sinh rất đặc biệt. Đối với một số trường dân lập thiếu sức hút với thí sinh, mất uy tín trên thị trường lao động thì chính điểm sàn hợp lý sẽ là động lực thúc đẩy họ hoàn thiện cơ sở vật chất, tăng tỷ lệ giáo viên cơ hữu, đổi mới giáo trình... nếu họ không muốn hụt chỉ tiêu hoặc thậm chí không có người học. Không thể chấp nhận nguyên tắc phải lấy cho đủ chỉ tiêu từ trên xuống, bất kể là điểm xuống đến đâu!



    Thứ ba, đổi mới quy trình xét tuyển là bài học nhìn thấy rõ nét từ bức tranh phổ điểm của các trường ĐH, CĐ. Thực tế năm 2002 đã chứng minh: hơn 100 trường đại học, cao đẳng có thể chia thành 3 tốp theo chất lượng thí sinh thể hiện trên phổ điểm của từng trường: tốp đầu gồm 12 trường, tốp 2: 70 và tốp cuối: 12. Ta thử xem phổ điểm của ĐH Bách Khoa Hà Nội (ĐHBK HN) đại diện cho tốp đầu: ĐHBK HN chỉ cần ngắt đoạn phổ điểm từ 19 trở lên đã được ~4.400, đủ hoặc thừa chỉ tiêu cần tuyển. Việc tuyển, do đó, có thể hoàn tất ngay trong ngày đầu tiên của đợt xét tuyển. Số thí sinh đạt từ 13-18,5 ở ĐHBK HN là ~6.700. Tương tự như vậy, mỗi trường thuộc tốp đầu có khả năng san sẻ hàng ngàn thí sinh có điểm thi từ điểm sàn trở lên cho tốp hai và tốp ba. Ngược lại các trường như ĐH An Giang (tốp 3) lại có phổ điểm rất xấu. Đường biểu diễn bị dồn ép mạnh về phía trái, điểm trung bình chỉ đạt 4,7; số thí sinh đạt trên điểm sàn 13/30 chỉ chiếm 4-5% chỉ tiêu tuyển. Còn 70 trường thuộc nhóm 2 đều có phổ điểm tốt hơn An Giang, nhưng vẫn rất xấu, chỉ có khả năng tuyển được 45-53% nguyện vọng một. Từ thực tế trên, TS Quách Tuấn Ngọc, giám đốc Trung Tâm  CNTT của Bộ GD&ĐT, trong hội nghị tổng kết công tác tuyển sinh 2002 và bàn thảo Quy Chế Tuyển Sinh 2003 tại TP Vinh (ngày 21, 22/12/2002) đã đề xuất phương án “3 tốp – 3 đợt – 3 nguyện vọng” (trong đó 1 nguyện vọng đăng ký trước khi thi, còn lại được phép ghi tên, nộp hồ sơ 2 lần theo nguyện vọng tự do sau khi công bố điểm). Đợt 1 chỉ cần 1-2 ngày có thể đảm bảo các trường thuộc tốp 1 tuyển đủ chỉ tiêu. Đợt 2 chủ yếu tạo điều kiện giúp cho các trường tốp 2 thu hút thí sinh đạt trên điểm sàn ở tốp 1 và để lấp đầy hoặc gần đủ chỉ tiêu, có thể kéo dài 10-15 ngày. Đợt 3 tiếp tục lấp đầy chỉ tiêu ở một số trường thuộc tốp 2 bằng việc san sẻ các thí sinh đạt trên điểm sàn dôi dư giữa các trường với nhau và đương nhiên cũng sẽ lấp đầy chỉ tiêu cho các trường thuộc tốp 3, thời gian cũng cần khoảng 10-15 ngày. Quy trình xét tuyển “3 tốp – 3 đợt – 3 nguyện vọng” vừa nêu đòi hỏi tính kỷ luật và trách nhiệm cộng đồng rất cao của những người làm CNTT. Những trường thừa thí sinh đạt điểm sàn nhanh chóng công khai dữ liệu, còn những trường thiếu thì công bố kịp thời số lượng còn thiếu lên mạng và các phương tiện thông tin đại chúng cho thí sinh biết để họ tự lượng sức mình mà ghi nguyện vọng. Hồ sơ xin dự tuyển cần hết sức đơn giản, có thể chỉ cần kèm theo một giấy báo điểm vì các thông tin khác đều đã có sẵn trong dữ liệu CNTT, cho phép tiến hành hậu kiểm khi thí sinh nhập học.

     

    Lời Kết

    Với sự hỗ trợ đắc lực của CNTT, lại có bài học kinh nghiệm của năm 2002, người viết hy vọng kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2003 sẽ diễn ra êm gọn, tiết kiệm và công bằng. Tiếp tục cải cách tuyển sinh là hợp quy luật, được lòng dân. Dư luận mong muốn sẽ được chiêm ngưỡng các phổ điểm chính xác và đẹp hơn trong những năm tiếp theo, nhờ những cải cách sâu sắc, toàn diện hơn từ cấp phổ thông đến ĐH và CĐ. Trách nhiệm nặng nề này không chỉ của riêng ngành GD&ĐT, mà của toàn xã hội.

     

    Hà Nội, xuân Quí Mùi
    Ghi chú:
    - Phổ điểm do Bộ GD&ĐT cung cấp.

    - Một số số liệu dẫn chứng trong bài lấy gần đúng dựa trên hình phổ điểm. 

     

    Vũ Ngọc Tiến

    ID: B0303_12