• Thứ Năm, 15/01/2004 15:30 (GMT+7)

    Quốc Hội cũng sẽ vào cuộc?

    Nhiều người có lý do để vui mừng với việc Quốc Hội (QH) bắt đầu bàn về hiệu quả của các dự án CNTT. 
    Có lẽ xác đáng và có tầm bao quát là ý kiến của đại biểu (ĐB) Mai Anh, ĐB Trần Việt Hùng tại phiên họp thứ ba của Ủy Ban KHCNMT của QH (1-4/4/2003) khi nói về các vấn đề liên quan đến những dự án ứng dụng CNTT. Theo hai ông thì việc triển khai những dự án này bộc lộ nhiều vấn đề phải được xem xét nghiêm túc. Có thể tóm lược ý kiến của các ông như sau:

    1. Không có chiến lược chung rõ ràng (về ứng dụng CNTT). Kế hoạch của bộ, ngành nào thì bộ, ngành đó tự làm lấy rồi trình lên Ban Chỉ đạo (BCĐ) 58, và như vậy là thiếu sự gắn kết.

    2. Không có quy trình chuẩn hoá để lập và thẩm định dự án.

    3. Không có người chuyên nghiệp điều hành, mà lại tiêu tiền lớn.

    4. Không có hành lang pháp lý đủ chặt cho việc duyệt, cấp vốn và tiêu tiền.

    Không kể các chương trình, dự án còn trên giấy, với những gì đã và đang triển khai đều rất dễ chứng minh các nhận xét nói trên là khá chính xác. Dù sao đây cũng là chuyện cũ. Còn bây giờ cần hành xử sao đây?
    Nhiều bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính Phủ, nhiều địa phương đều xây dựng các chương trình, dự án CNTT. Nơi ít thì 1-2 dự án, kinh phí vài chục tỷ. Nơi nhiều thì cả chục dự án và thường được gom lại thành “chương trình” với kinh phí vài trăm đến vài ngàn tỷ đồng. Ví dụ: Đề án 112 - cỡ ngàn tỷ; Chương trình nguồn nhân lực CNTT: cỡ nhiều ngàn tỷ; Ban Vật Giá Chính Phủ: vài chục tỷ; Bảo hiểm VN: non ngàn tỷ; Bộ NN&PTNT: vài trăm tỷ; Thư viện điện tử: cỡ vài ba trăm tỷ; TP. Hà Nội: vài trăm tỷ; TP. HCM: ngàn tỷ; v.v...

    Chúng tôi có hỏi một vị trong Văn Phòng BCĐ 58: các kế hoạch vừa kể trên (và có thể còn rất nhiều nữa) đã trình BCĐ 58 chưa, ý kiến của Ban ra sao? Ông cho biết là chưa có quy định gì mới về việc các kế hoạch trên phải trình ai, ai thẩm định, ai phê duyệt. Khi chúng tôi cho ông biết về nhận xét số 1 nêu trên thì ông nói: nhận xét đó căn bản là đúng, tức là không có cơ quan tương tự như Văn Phòng Kiến Trúc Sư Trưởng của một thành phố để quy hoạch các hệ thống ứng dụng CNTT của cả nước. Bộ nào, địa phương nào thấy cần xây dựng hệ thống nào thì cứ trình Bộ KHĐT (chứ không phải là trình BCĐ). Ta hãy tưởng tượng một quy trình như sau trong xây dựng đô thị: Tại Hà Nội hay TP. HCM, bất kỳ cơ quan nào muốn xây dựng nhà thì hãy chuẩn bị hồ sơ trình Sở KHĐT, Sở sẽ làm các thủ tục cần thiết trình chủ tịch UBND phê duyệt.

    Khi đó thành phố sẽ thành cái gì?
    Chúng tôi cho rằng quy trình này không ổn vì tính hệ thống của những ứng dụng CNTT rất cao. Mỗi hệ thống cần được các nhà chuyên môn (các kiến trúc sư lão luyện) xem xét trong tổng thể, trong mối liên hệ với các hệ thống khác. Bộ KHĐT không thể làm nhiệm vụ Kiến Trúc Sư Trưởng cho các hệ thống ứng dụng CNTT cho cả nước ta. BCĐ Quốc Gia (QG) về CNTT cần giải quyết ngay vấn đề vô cùng quan trọng này, đặc biệt vấn đề ai thẩm định các chương trình, dự án ứng dụng CNTT và thẩm định như thế nào.
    Ngoài ra, dù là ai thẩm định (và thẩm định như thế nào), ai phê duyệt, ai kiểm tra việc thực hiện các chương trình, dự án CNTT thì vai trò giám sát của QH cũng rất quan trọng. Để giúp các ĐB QH làm tốt chức năng giám sát và giúp các cơ quan sẽ làm nhiệm vụ thẩm định, kiểm tra thì vấn đề tư vấn và phản biện là việc của Liên Hiệp Các Hội KHKT ở Trung Ûơng và các tỉnh thành. Đây là chức năng quan trọng nhất trong cương lĩnh hoạt động của tổ chức này. Trong khi các hội chuyên ngành khác làm khá mạnh và có hiệu quả chức năng tư vấn và phản biện đối với các dự án như thuỷ điện Sơn La, đường Hồ Chí Minh, thay nước Hồ Tây... thì Hội Tin Học và các hội ngành nghề liên quan  đã làm gì với các dự án CNTT? Rất tiếc, chính ĐB Mai Anh, trước 12/2002 đã từng là tổng thư ký Hội Tin Học VN hai nhiệm kỳ, hiểu rất rõ rằng Hội Tin Học đã không làm tròn sứ mạng này.
    Đã đến lúc mọi dự án lớn về CNTT phải được bao bọc bởi hành lang pháp lý ở thế chân kiềng: BCĐQG về CNTT thẩm định và phê duyệt, UBKHCNMT QH giám sát thực hiện và LH các Hội KHKT làm tư vấn, phản biện.

    Nhật Thu

    ID: B0305_9