• Thứ Sáu, 09/01/2004 09:50 (GMT+7)

    Dự Án Giáo Dục Đại Học: Từ một hướng tiếp cận

    Tiếp cận Dự Án Giáo Dục Đại Học từ một nội dung rất nhỏ - Phần mềm quản lý giáo dục đại học với dự chi 4,3 triệu USD tức 70 tỷ đồng, chiếm vẻn vẹn 4% tổng giá trị dự án - ta đã thấy cộm lên nhiều bức xúc. Chớ mà vì đã “dấm” sẵn được một cục tiền nên phải nghĩ cách tiêu cho hết. Đã vay thì rồi phải trả, trăm dâu đổ đầu tằm, hết thảy đều quy về hạt thóc của dân...


    Sân chơi dịch ảo – sân chơi mới của sinh viên ĐH Kinh Tế TP.HCM

    Gần đây, sau những khuyến cáo của đoàn thanh sát của Ngân Hàng Thế Giới (WB), dư luận rộ lên phán xét Dự Án Giáo Dục Đại Học: “Cực kỳ thất vọng, rủi ro cao, hiệu quả thấp, vượt ngưỡng an toàn” (báo Tuổi Trẻ 24/4/2003). Tại phiên họp ngày 14/5/2003 kỳ họp thứ 3 Quốc Hội khoá XI, các đại biểu Nguyễn Thị Hồng Đào (An Giang), Trương Thị Mai (Trà Vinh)... đã chất vấn khá gay gắt Bộ Trưởng Nguyễn Minh Hiển về dự án này. Ở góc độ người làm CNTT, chúng tôi tiếp cận Dự Án Giáo Dục Đại Học từ một công việc cụ thể: xây dựng phần mềm quản lý giáo dục đại học (PMQLGDĐH).

     

    Lơ Mơ Khi Lập Dự Toán

     

    Dự Án Giáo Dục Đại Học (GDĐH) được soạn thảo từ năm 1995, chính thức khởi động vào tháng 3/1999, nhưng phải mất một năm loay hoay với các thủ tục hành chính: chọn địa điểm đặt trụ sở (số 2 Lê Đại Hành, Hà Nội), tuyển người, mở tài khoản và chờ thông tư liên Bộ Tài Chính – GDĐT hướng dẫn cơ chế thu chi... Trên thực tế, đến hết quý I năm 2000, dự án mới đi vào hoạt động. Theo ông Lê Phước Minh, trưởng ban quản lý dự án, tên đầy đủ của dự án là: “Cải cách, củng cố và nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam”. Nó được chia ra hai thành phần: Một là những nội dung nhằm tăng cường năng lực quản lý hệ thống GDĐH; Hai là quĩ nâng cao chất lượng đào tạo để chuyển tiền cho các trường đại học đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và hạ tầng CNTT (máy tính, mạng nội bộ, thư viện điện tử). Tổng kinh phí cho dự án là 103,3 triệu USD, trong đó 80,3 triệu USD vay WB, còn lại là vốn đối ứng của Việt Nam. Như vậy PMQLGDĐH thuộc nhóm nội dung của thành phần I, còn đầu tư hạ tầng CNTT thuộc nhóm của thành phần II và chiếm tỷ trọng khá lớn trên tổng kinh phí 103,3 triệu USD.

    Chúng tôi đã tìm gặp ông Lê Phước Minh và một vài người tham gia lập dự toán từ năm 1995 để hỏi về cơ sở dự chi 4,3 triệu USD (xấp xỉ 70 tỷ đồng VN) cho PMQLGDĐH. Thật bất ngờ, ông Minh và các cộng sự đều vô tư thừa nhận là khi soạn thảo và cả khi được phê duyệt, không ai trong số họ hiểu tường tận nội dung PMQLGDĐH gồm những gì. Do vậy số tiền dự chi cho nó chỉ là áng chừng, thậm chí có người cho là ngẫu hứng!

     

    Lình xình lúc gọi thầu tư vấn

     


    Cuộc thi tin học sinh viên tại ĐH Khoa Học Tự Nhiên TP.HCM

    Ngày 3/4/2003, sau những khuyến cáo có phần quyết liệt của WB về PMQLGDĐH, Thứ Trưởng Trần Văn Nhung đã ký quyết định số 1505/QĐ-GDĐT-TCCB, thành lập tổ công tác đặc biệt gồm 21 người do ông Đặng Văn Chuyết làm tổ trưởng, ông Đào Kiến Quốc làm thư ký. Theo quyết định này, nhiệm vụ của tổ công tác là nhanh chóng xây dựng một thiết kế kỹ thuật tổng thể cho PMQLGDĐH. Nghiên cứu cơ cấu của tổ, ta dễ nhận thấy nó gồm hai nhóm: nhóm một là các nhà quản lý cấp vụ và cấp trường làm nhiệm vụ ra đầu bài về các yêu cầu quản lý; nhóm hai là các chuyên gia CNTT hiểu biết về phần mềm quản lý ở các trường đại học lớn và Viện CNTT Quốc Gia, làm nhiệm vụ tiếp nhận đầu bài, chuyển hoá thành giải pháp công nghệ và các tiêu chuẩn kỹ thuật. Rõ ràng bản chất công việc của tổ công tác là tư vấn kỹ thuật, một việc lẽ ra phải tiến hành từ tháng 3/2000 hoặc ít nhất vào giữa năm 2001. Dư luận gọi quyết định trên là động thái “trả nợ thời gian” thật không ngoa!...

     

    Thật ra, vào giữa năm 2001, theo gợi ý của WB, Bộ GDĐT đã tiến hành gọi thầu tư vấn cho PMQLGDĐH. Tham gia ứng thầu có 3 công ty tư vấn nước ngoài và một công ty phần mềm trong nước với sự hậu thuẫn của một viện nghiên cứu lớn. Việc gọi thầu và xét thầu diễn ra lình xình, bế tắc bởi nhiều lý do tế nhị. Giá trị gói thầu không lớn, chỉ khoảng hơn 100 ngàn USD. Nhiệm vụ tư vấn của gói thầu gồm: Khảo sát hiện trạng ứng dụng CNTT ở 100 trường đại học; Dự thảo thiết kế tổng thể và yêu cầu kỹ thuật của PMQLGDĐH; Đề xuất các định hướng đầu tư hạ tầng CNTT trong thành phần II của dự án GDĐH nhằm phục vụ cho PMQLGDĐH. Theo ông Đào Kiến Quốc, “gọi thầu bế tắc vì công ty trong nước ứng thầu đưa giá gấp đôi của Mỹ, gấp 4 lần của Srilanka”. Thế nhưng theo một nguồn tin khác thì trước khi gọi thầu, hội đồng chọn tư vấn gồm 7 vị thì đã có 6 phiếu ủng hộ việc trong nước làm tư vấn, chỉ có 1 phiếu đề nghị mời tư vấn nước ngoài. Lình xình một thời gian, cuối cùng Bộ GDĐT quyết định giao việc tư vấn cho các cán bộ quản lý cấp vụ soạn thảo yêu cầu cho từng chức năng tương ứng. Đáng tiếc vì họ quá bận việc, hiểu biết hạn chế về CNTT, thiếu “nhạc trưởng” chỉ huy... nên đến thời điểm WB vào thanh sát họ vẫn chưa làm được gì.

     

    Trả nợ thời gian: ba trong một

     

    Tổ công tác được lập ra (tháng 04/2003) để làm một việc lẽ ra phải làm từ 3 năm trước (tháng 03/2000). Họ đã làm việc nỗ lực trong 3 tuần và thật thú vị, họ đã cho ta 3 điều bất ngờ:

    Bất ngờ thứ nhất: qua khảo sát, rất nhiều trường ĐH đã đi trước dự án, ứng dụng CNTT từ rất sớm vào công tác quản lý. Đi đầu trong số đó là ĐH Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh. Năm 1994, trường đã triển khai phần mềm quản lý trên nền Foxpro. Năm 1997, phần mềm này được nâng cấp theo hướng vừa hỗ trợ mô hình niên chế, vừa hỗ trợ mô hình tín chỉ và tích hợp được khá nhiều chức năng quản lý. Phần mềm này đang được sử dụng ở nhiều trường ĐH - CĐ khác (ĐH Thuỷ Sản, ĐH Xây Dựng, ĐH Nông Nghiệp I, ĐH Tây Nguyên...). Ở Hà Nội, ĐH KHTN và ĐHQG Hà Nội từ năm 1997 cũng đã sử dụng phần mềm quản lý đào tạo trên nền Foxpro. Từ năm 2002, phần mềm này được quy định là phần mềm dùng chung cho tất cả 5 trường thuộc hệ thống ĐHQG Hà Nội. Đầu tư cho CNTT ở ĐHQG Hà Nội năm 2002 không nhỏ: 10 tỷ đồng, trong đó 232 triệu dành cho các phần mềm quản lý. Trong khối các trường CĐ, đi tiên phong là trường CĐ Công Nghiệp 4 (TP.HCM), trường này đã đầu tư 500 triệu đồng thuê công ty BSC viết phần mềm quản lý dùng CSDL tiên tiến (MS/SQL)...

     

    Thế nhưng các PMQL đã làm trên hệ Foxpro dù tốt đến mấy cũng không thể so sánh được với MS/SQL, Oracle, DB2 và Informix, vốn thông dụng ở các trường ĐH trên thế giới. Quy mô và loại hình dịch vụ còn hạn chế, thiết kế chưa bài bản. Các phần mềm chưa có một tiêu chuẩn chung nên khó liên thông trên mạng Edunet... Đáng tiếc là những đầu tư lớn cho PMQL ở các trường đều diễn ra ồ ạt vào giai đoạn 2000-2002; nếu thông tin về dự án xây dựng PMQLGDĐH sớm được công khai, công tác tư vấn kỹ thuật làm tốt và sớm, thì các trường đã có cơ hội tái cấu trúc hệ thống mạng trên cùng một chuẩn công nghệ và chuẩn dữ liệu của PMQL!

     

    Bất ngờ thứ hai: dưới áp lực của WB, tổ công tác 21 người làm nhiệm vụ tư vấn đã hoạt động khẩn trương. Nhờ đó, cái việc 3 năm không làm được đã hoàn tất trong 3 tuần. Thiết kế tổng thể và 12 phân hệ chính được đề xuất xem ra chẳng có gì ghê gớm! (xem sơ đồ và bảng)

     


    Bảng 12 phân hệ của PMQLGDĐH theo đề xuất của tổ công tác

    Bất ngờ thứ ba: xem bảng ta thấy, hình như Bộ GDĐT vẫn có ý định sử dụng nguồn vốn vay WB 4,3 triệu USD để gọi thầu toàn bộ 12 phân hệ trên. Có thật cần thiết như vậy không? Nếu WB có quy chế không thanh toán những khoản do người trong ngành GDĐT cung ứng dịch vụ thì ta làm cho ta, có mất gì đâu! Xin các nhà chuyên môn cho ý kiến. [PC World VN dự định mở diễn đàn về vấn đề này, xin mời các bạn đọc quan tâm tham gia.

     

     

    Lời kết

     

    Dự án GDĐH (103,3 triệu USD) đã đi được 2/3 chặng đường, nhưng các hạng mục đều trì trệ và thiếu an toàn. Tiếp cận dự án này từ một nội dung nhỏ là PMQLGDĐH (4,3 triệu USD) ta đã thấy cộm lên nhiều bức xúc. Có lẽ bài học lớn nhất ở đây là sự công khai thông tin ngay từ lúc khởi động và cả trong từng bước triển khai. Khi chúng tôi tìm gặp phỏng vấn nhiều người trong tổ công tác, họ đều trả lời: trước lúc có quyết định thành lập tổ công tác ngày 3/4/2003, họ và bạn bè trong giới CNTT hầu như không biết một thông tin gì về dự án. Hỏi sâu thêm nữa, họ và rất nhiều vị GS, TS giảng dạy CNTT ở các trường đều im lặng, vì gần đây Bộ có một công văn (số 2991-CTCT ngày 10/4/2003) nhắc nhở các đơn vị và cá nhân phải “thận trọng” khi tiếp xúc với báo chí!...

    Ta chớ nên vì đã “dấm” sẵn được một cục (4,3 triệu USD) mà phải nghĩ cách tiêu cho hết. Đã vay thì rồi phải trả, trăm dâu đổ đầu tằm, hết thảy đều quy về hạt thóc của dân...

     

    Hà Nội 5/2003

    Vũ Ngọc Tiến

     

    ID: B0306_16