• Thứ Năm, 08/01/2004 17:24 (GMT+7)

    Phát triển Công Nghiệp Phần Mềm Việt Nam: Nhìn từ khía cạnh chính sách

    Trong 3 năm qua, ngành công nghiệp phần mềm (CNpPM) Việt Nam phát triển không được như mong muốn. Chúng ta thử tìm nguyên nhân trong các chính sách đã ban hành và việc thực hiện các chính sách đó.

    Mô hình 4/1

    Để phát triển phần mềm (PM) như một ngành kinh tế, theo như Bill Gates (Microsoft) trình bày tại Bắc Kinh năm 2002 thì cần hội tụ đủ 4 yếu tố:

    Thị trường: Vai trò của thị trường không chỉ đơn giản là nơi tiêu thụ sản phẩm mà quan trọng hơn là nơi tạo ý tưởng cho các sản phẩm, giải pháp PM mới. Câu hỏi của các doanh nghiệp (DN) PM không chỉ đơn thuần là “có thể tiêu thụ sản phẩm PM ở đâu?” mà phải là “sản phẩm PM nào có thể tiêu thụ được?”.

    Nhân lực: Với ngành công nghiệp có hàm lượng chất xám đậm đặc, vai trò của nguồn nhân lực với chất lượng cao và số lượng đủ lớn là rất quan trọng. Nhân lực ở đây bao gồm cả nhân lực kỹ thuật lẫn nhân lực quản lý.

    Tài chính: Giống như mọi ngành kinh tế khác, tài chính là nhiên liệu cho cỗ máy CNpPM vận hành.

    Công nghệ: PM là ngành công nghệ cao với tốc độ thay đổi rất nhanh. Công nghệ ở đây cũng được hiểu là cả công nghệ kỹ thuật lẫn công nghệ quản lý. Vai trò của công nghệ không chỉ cho phép tạo ra các sản phẩm-dịch vụ mới mà chủ yếu còn cho phép tăng năng suất lao động. Tăng năng suất lao động - đồng nghĩa với tăng lợi nhuận và tạo ưu thế cạnh tranh - chủ yếu thực hiện thông qua công nghệ.

    Mỗi một DN PM khi hoạt động đều phải dựa trên 4 yếu tố mang tính chất nội lực nêu trên, tuy nhiên để phát triển được, 4 yếu tố trên cần được kết hợp trong một môi trường hoạt động (môi trường kinh tế - văn hoá - xã hội - pháp lý - cơ sở hạ tầng) mang tính chất nền tảng (mô hình 4/1).

    Việc xây dựng các chính sách để phát triển ngành CNpPM thực chất là nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các yếu tố trong mô hình 4/1 đều khởi sắc.

    Ba năm và rất nhiều chính sách

    Các chính sách quan trọng nhất nhằm phát triển ngành CNpPM đã được nêu khá chi tiết và cụ thể từ 3 năm qua, bắt đầu bằng Nghị quyết 07/2000/NQ-CP ngày 5/6/2000 về xây dựng và phát triển CNpPM giai đoạn 2000 - 2005 (NQ07), và sau đó là hàng loạt văn kiện quan trọng khác của Đảng, Chính Phủ và thông tư của các bộ ngành liên quan trực tiếp đến CNpPM nói riêng và CNTT nói chung như Chỉ Thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính Trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa giai đoạn 2001 - 2005 (CT58), Quyết định 128/2000/QĐ-TTG ngày 20/11/2000 về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và phát triển CNpPM (QĐ128), Quyết định 81/2001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001 phê duyệt Chương trình hành động triển khai Chỉ Thị 58-CT/TW của Bộ Chính Trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa giai đoạn 2001 - 2005 (QĐ81), Quyết định 95/2002/QĐ-TTg ngày 17/7/2002 phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT ở Việt Nam đến năm 2005 (QQD95)...

    Trên góc độ mô hình 4/1, nhiều công việc đã được thực hiện để mỗi một trong 4 yếu tố và môi trường nền tảng đều có những cải thiện đáng kể - tuy nhiên dường như ngành CNpPM vẫn không phát triển được như mong muốn và các yếu tố trong 4/1 vẫn chưa thực sự khởi sắc.

    Trước hết, xét yếu tố nền móng

    Một số yếu tố liên quan đến môi trường hoạt động của các DN PM̀:

    Hạ tầng viễn thông - Internet

    Điều 12 trong QĐ128 (tháng 11/2000) nêu rõ: “Cho phép các khu CNpPM tập trung được kết nối cổng Internet riêng với hệ thống Internet quốc tế để tất cả các DN PM trong các khu này và các DN PM đăng ký dịch vụ Internet qua các khu này có thể sử dụng đầy đủ và dễ dàng các dịch vụ Internet theo giá cạnh tranh với các nước trong khu vực”. Đọc điều này, các khu CNpPM tập trung phấn khởi, các DN PM nằm trong và ngoài khu CNpPM tập trung cũng phấn khởi. Tuy nhiên thực tế là quy định trên đã không được thực hiện, vụ việc liên quan đến Saigon Software Park (SSP - TP.HCM) kết nối trực tiếp Internet qua vệ tinh để Chính Phủ phải can thiệp là một minh chứng - đến nay chỉ có SSP và Softech Đà Nẵng được quyền thử nghiệm mà thôi, các DN nằm ngoài khu CNpPM tập trung vẫn chưa được kết nối Internet qua các khu này.

    Tuy nhiên cũng phải thấy rằng điều 12 trong QĐ128 đã bị “bó hẹp” hơn trong QĐ81 (tháng 5/2001): việc “bảo đảm kỹ thuật kết nối trực tiếp với Internet quốc tế cho các khu CNpPM tập trung” được giao cho Tổng Công Ty BCVT.

    Xuất bản, xuất nhập khẩu

    Điều 13 trong QĐ128 nêu rõ: “Bộ Văn Hóa - Thông Tin chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn, cải tiến thủ tục để việc xuất bản, xuất, nhập khẩu PM đặc biệt là chương trình, tài liệu mô tả chương trình và tài liệu hỗ trợ được thực hiện nhanh chóng không gây phiền hà, ách tắc, thiệt hại cho tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích liên quan”. QĐ81 nhấn mạnh lại một lần nữa: “Bộ Văn Hóa - Thông Tin hướng dẫn, cải tiến những quy định có liên quan đến xuất bản, xuất, nhập khẩu PM”.

    Thực tế thì sao? Đến nay các công ty PM vẫn không được tự phát hành các sản phẩm PM dưới dạng CD do chính mình sản xuất ra. Các CD phần mềm Made in Vietnam đều phải xin giấy phép thông qua một nhà xuất bản nào đó. Có lẽ có rất ít ngành kinh tế mà sản phẩm của DN làm ra khi đưa ra thị trường phải qua thủ tục nhiêu khê như vậy. Phần nhập khẩu cũng vậy, nhập một CD phần mềm trị giá 1000 USD từ nước ngoài ở thời điểm tháng 6/2003 vẫn có thể phải nộp thuế nhập khẩu 450 USD (45%) theo mã thuế nhập khẩu số 85243190 về “CD để tái tạo hình tượng không phải âm thanh hoặc hình ảnh” .

    Sở hữu trí tuệ

    NQ07 nêu rõ “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục trong toàn xã hội nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng và bảo vệ quyền tác giả đối với sản phẩm phần mềm. Thực thi bảo vệ quyền tác giả trong lĩnh vực này”. Việc bảo vệ quyền tác giả là một cuộc chiến lâu dài nhằm từng bước giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền của Việt Nam đang ở mức cao nhất thế giới. Việc thực thi không nghiêm luật bản quyền đối với sản phẩm PM thực chất thể hiện việc không tôn trọng lao động chất xám đúng mức và tạo tâm lý thiết lập một định mức tính giá làm PM dưới ngưỡng hòa vốn.

    Chúng ta vẫn biết không thể để tỷ lệ vi phạm bản quyền PM ở mức cao như vậy được, vẫn biết nếu tỷ lệ này cao thì không thể có ngành CNpPM đúng nghĩa, tuy nhiên ba năm qua chưa có biện pháp mạnh nào để cải thiện tình hình này.

    Tiếp theo là 4 trụ

    1. Trụ “Thị trường”

    Có 2 thị trường cơ bản cho các DN PM: thị trường gia công - xuất khẩu ra nước ngoài và thị trường nội địa. Thị trường nội địa chia thành 3 mảng: nhà nước, DN và người dùng cá nhân. Các chính sách ban hành trong thời gian vừa qua đã góp phần phát triển các mảng thị trường này như thế nào?

    Đối với thị trường ngoài nước, các DN PM rất vui mừng với việc “Bộ Thương Mại, Bộ Ngoại Giao, Bộ Kế Hoạch-Đầu Tư, Bộ KHCNMt và các Bộ, ngành có liên quan tổ chức xúc tiến thương mại và tạo điều kiện cho các DN làm CNpPM trong nước mở chi nhánh và văn phòng đại diện ở trong nước và nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài và xuất khẩu lao động PM” (NQ 07). Tuy nhiên cạnh tranh với các nước khác không đơn giản.

    Đối với thị trường trong nước, khởi sắc nhất có lẽ là thị trường PM cho các cơ quan quản lý nhà nước, với QĐ 112/2001 về Dự án Tin học hoá quản lý hành chính nhà nước đầy tham vọng và việc đưa chi tiêu cho CNTT nói chung và PM nói riêng vào “mục lục ngân sách nhà nước” (CT58), cùng với hàng loại quy định, thông tư của Bộ Tài Chính hướng dẫn cách thức “tiêu tiền” cho các ứng dụng này. Tuy nhiên điều gây ra thất vọng lớn cho các DN PM là các năm qua, và ngay cả trong năm 2003, tốc độ giải ngân quá chậm chạp hoặc thậm chí không giải ngân được, những con số kế hoạch vài chục, vài trăm tỷ đồng nêu ra dần dần mất đi tính nghiêm túc.

    2. Trụ “Nhân lực”

    Mỗi một DN PM khi hoạt động đều phải dựa trên 4 yếu tố mang tính chất nội lực (thị trường - nhân lực - tài chính - công nghệ), tuy nhiên để phát triển được, 4 yếu tố trên cần được kết hợp trong một môi trường hoạt động (môi trường kinh tế - văn hoá - xã hội - pháp lý - cơ sở hạ tầng) mang tính chất nền tảng (mô hình 4/1).

    Việc xây dựng các chính sách để phát triển ngành CNpPM thực chất là nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các yếu tố trong mô hình 4/1 đều khởi sắc.

    Ngoài việc tăng cường tập trung đầu tư cho các khoa CNTT tại các trường ĐH, Chính Phủ cũng thấy rằng không thể chỉ dựa vào hệ thống ĐH là có thể yên tâm về nguồn nhân lực cho ngành CNTT nói chung và ngành PM nói riêng. Trong các nghị quyết, chỉ thị ban hành hàng năm, điều này thường xuyên được nhấn mạnh:

    • “Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho CNTT nói chung và CNpPM nói riêng “ (NQ07, năm 2000);

    • “Các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập các cơ sở đào tạo về CNTT. Các cơ sở này được hưởng các ưu đãi đối với các hoạt động đào tạo về CNTT như đối với DN PM” (QĐ128, năm 2000);

    • “Xã hội hoá mạnh mẽ việc đào tạo CNTT” (CT58, năm 2000);

    • “Xây dựng các biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các chuyên gia về CNTT nước ngoài tham gia đào tạo nhân lực về CNTT” (QĐ81, năm 2001);

    • “Xã hội hóa công tác giáo dục đào tạo về CNTT, khuyến khích các tổ chức xã hội, các thành phần kinh tế và các cá nhân tham gia đầu tư phát triển nguồn nhân lực CNTT” (QĐ95, năm 2002).

    Việc xã hội hoá công tác đào tạo nhân lực CNTT nằm trong chiến lược tổng thể “huy động mọi nguồn lực để tăng đầu tư cho ứng dụng và phát triển CNTT “ (QĐ81). Ba năm qua, việc tổ chức công việc này được chính phủ giao đích danh cho Bộ GDĐT (QĐ81: Bộ GDĐT xây dựng các biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các chuyên gia về CNTT nước ngoài tham gia đào tạo nhân lực về CNTT), tiếc rằng Bộ GDĐT không làm gì cả và để hệ thống đào tạo phi chính quy hình thành và phát triển tự phát.

    Công bằng mà nói thì Bộ GDĐT cũng không dễ dàng thực hiện nhiệm vụ do chính phủ giao khi vướng phải điều 17 Luật Giáo Dục “Cấm mọi hành vi thương mại hoá hoạt động giáo dục”. Phải “huy động mọi nguồn lực”, “khuyến khích mọi thành phần kinh tế”, mà lại không cho phép thương mại hoá thì quả là khó thật.

    3.Trụ “Tài chính”

    Chính sách tài chính quan trọng nhất được ban hành và thực hiện trong các năm qua là quyết định miễn thuế thu nhập 4 năm cho các DN PM và áp dụng thuế thu nhập cá nhân ưu đãi cho người làm PM. Đây là chính sách mang tính khen thưởng “không thu cái đáng lẽ phải thu”, cho phép các DN PM và nhân viên làm PM “giữ lại cái đáng lẽ phải nộp”. Chính sách này sẽ phát huy tác dụng rất tốt nếu các DN PM ăn nên làm ra, tuy nhiên khi đa số các DN PM đều lỗ hoặc lãi rất ít thì chính sách trên không phát huy được tác dụng.

    Với tính chất là một ngành công nghệ cao, nhiều rủi ro, đồng thời lại có tiềm năng sinh lợi lớn, việc tạo cơ chế để huy động các nguồn vốn xã hội cho các DN PM dưới dạng đầu tư mạo hiểm là rất cần thiết - và NQ07 năm 2000 đã chỉ rõ điều này: “Bộ KHCNMT chủ trì, phối hợp với Bộ Tài Chính và các Bộ, ngành có liên quan thành lập và ban hành quy chế tổ chức, quản lý và hoạt động của Quỹ đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ PM”. Tiếc rằng điều này đến nay vẫn chưa được thực hiện.

    Và cuối cùng: trụ "Công nghệ'

    Vai trò của công nghệ như biện pháp nâng cao năng suất lao động và tạo ưu thế cạnh tranh của các DN PM chưa được quan tâm đúng mức trong các văn bản, nghị quyết. Trong QĐ95 có nhắc đến các hoạt động khoa học công nghệ nhưng chưa đủ mạnh: “Nắm bắt được những tiến bộ công nghệ của thế giới để thực hiện có hiệu quả việc thích nghi hóa và chuyển giao công nghệ vào Việt Nam; từng bước giải quyết những vấn đề CNTT đặc thù của Việt Nam. Khuyến khích thành lập các vườn ươm công nghệ có tiềm năng thương mại nảy sinh từ các cơ sở nghiên cứu triển khai của các khu công viên PM, các viện, trường ĐH và khu vực sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế. Khuyến khích thành lập các cơ sở nghiên cứu - triển khai về CNTT trong các DN CNTT thuộc mọi thành phần kinh tế. Tăng cường một số cơ sở nghiên cứu chủ chốt về CNTT tại các viện và trường đại học thành lực lượng nòng cốt về nghiên cứu và triển khai”.

    Các công việc nêu trên chưa triển khai được bao nhiêu. Việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là việc không thể không làm trong giai đoạn phát triển ban đầu của ngành CNpPM. Tuy nhiên những quy định về giá trần, về thời hạn và những ràng buộc về hợp đồng quy định trong Luật Chuyển Giao Công Nghệ thực sự chỉ phù hợp với các công nghệ của nền công nghiệp truyền thống - khi hàm lượng công nghệ chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ của sản phẩm - chứ không thể áp dụng cho các ngành công nghệ cao trong đó có CNpPM. Trong Luật Chuyển Giao Công Nghệ, giá công nghệ chuyển giao được quy định như sau: không vượt quá 5% giá bán sản phẩm (hoặc 8% tổng giá trị đầu tư, hoặc 25% lợi nhuận).

    Các quy định dường như nhằm bảo vệ quyền lợi cho người mua công nghệ thực chất đã không cho phép mua các công nghệ đất giá chất lượng cao, đồng nghĩa với việc không khuyến khích sản xuất các sản phẩm công nghệ cao với giá trị công nghệ được chuyển giao trong sản phẩm vượt quá 5%!

    Lời kết

    Chỉ thị 58 của Bộ Chính Trị nhận định: một trong các nguyên nhân chủ yếu làm chậm việc phát triển CNTT trong thời kỳ trước năm 2000 là “chưa thực hiện triệt để các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà Nước”. Ba năm qua, tình trạng này dường như đang được lặp lại. Các DN PM Việt Nam đang xây dựng hoạt động của mình theo mô hình 4/1 (thị trường - nhân lực - tài chính - công nghệ / môi trường hoạt động). Nền móng chưa thực sự vững chắc, bốn cột còn lung lay thì thật khó mà đứng vững và phát triển mạnh được!

     

    Lê Trường Tùng

    Chủ Tịch Hội Tin Học TP.HCM

    ID: B0307_37