• Thứ Tư, 07/01/2004 14:56 (GMT+7)

    Suy nghĩ về phát triển CNTT tại một đô thị quy mô trung bình

    Ngoài 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, nước ta có một số đô thị quy mô trung bình và nhiều tỉnh với các đô thị nhỏ. Mọi nơi đều đang tìm mô hình phát triển CNTT thích hợp với mình. Chắc chắn các mô hình này đều rất riêng, rất đặc thù theo từng nơi. Tuy nhiên cần có cái nhìn phổ quát cho một số nhóm. Nhóm đô thị quy mô trung bình đang lúng túng nhất. Bài viết góp ý kiến định hướng phát triển CNTT cho các đô thị loại này.

    Vào Vạch Xuất Phát

    Đô thị quy mô trung bình trong tình hình hiện nay của Việt Nam có thể tạm xem là có các chỉ số thuộc 3 nhóm chỉ số sau:

    Nhóm 1 - chỉ số xã hội:

    • Dân số khoảng 500.000 - 700.000  dân.

    • GDP đầu người khoảng 600 - 800 USD (5000 tỷ đồng).

    • Có một số trường đại học, cao đẳng.

    Nhóm 2 - chỉ số hạ tầng máy tính - truyền thông:

    • Số máy tính/1000 người: khoảng 20 - 30 máy (10.000 máy).

    • Số điện thoại/100 người: khoảng 10 - 12 (50.000 điện thoại).

    • Số điện thoại di động/100 người: khoảng 12 - 15 máy (60.000 máy).

    • Số thuê bao Internet khoảng 2 - 2,5% (10.000 thuê bao).

    Nhóm 3 - chỉ số về nhân lực CNTT:

    • Số người làm chuyên về CNTT trong các công ty CNTT: 300 - 1.000 người.

    • Số các công ty, trung tâm CNTT: 50 - 100.

    (Các số trong ngoặc là tính cho trường hợp tối thiểu với đô thị khoảng 500.000 dân.)

    Với đô thị quy mô trung bình về địa lý, kinh tế, xã hội (theo nhóm 1), nếu chưa đạt được các chỉ số nhóm 2, 3  thì việc cần tập trung nhất chính là làm sao đạt được các chỉ số đó, tức là đạt được sự phát triển cơ sở tối thiểu cho CNTT. Với các chỉ số tối thiểu đó, CNTT chưa thể có lợi lớn cũng như không có hại lớn và có thể xem như bắt đầu vào vạch xuất phát!

    Chúng ta sẽ bắt đầu từ mức này:

    500.000 dân, 10.000 máy tính, 10.000 thuê bao Internet, 300 người làm nghề CNTT chuyên nghiệp trong 50 đơn vị CNTT.

    Cấu trúc trên đây là sự đồng bộ ở mức nghèo của nước ta. Những chỉ số này cũng là mức tối thiểu để bắt đầu cuộc luận bàn đến sự hiệu quả đầu tư trong quy mô toàn cục. Chỉ từ mức xuất phát này mới có thể có những thảo luận có lý về mô hình phát triển CNTT thích hợp cho một địa phương dạng đô thị có qui mô trung bình.

    Thành phố xinh xắn với khoảng 500.000 dân có thể nghĩ gì về các bước tiếp theo của CNTT khi đã vào mức xuất phát?


    Một lớp tập huấn ứng dụng CNTT tại chi cục kiểm lâm Đồng Nai

    Ở mức xuất phát này còn vài chỉ số khác: khoảng 50.000 máy điện thoại để bàn, 60.000 điện thoại di động. Chúng tôi đã cố tình không đặt các chỉ số này vào các chỉ số phải rất quan tâm ở “mức xuất phát”. Có một thực tế là dường như chúng ta không phải băn khoăn về hiệu quả của khoảng 100.000 điện thoại các loại này, nhưng hiệu quả của 10.000 máy tính thực sự là nỗi ám ảnh của các nhà lãnh đạo. Hiển nhiên mọi người đều biết cách sử dụng điện thoại và biết dùng nó làm gì. Còn máy tính thì không phải vậy. Trung bình 1 máy tính cá nhân có 4 - 5 người dùng. Vậy vấn đề đầu tiên là làm mọi cách để khoảng 50.000 người tức khoảng 10% số dân của đô thị biết dùng máy tính tương đối thành thạo. Được như vậy, tự nhiên mọi vấn đề thảo luận về chính phủ điện tử, thương mại điện tử sẽ có chỗ để nói, có người để làm và có cớ để dùng, nói cách khác là sẽ có môi trường và động lực để phát triển những ứng dụng toàn cục một cách hiệu quả.

    Trên phạm vi toàn cục thì nên ứng dụng CNTT vào đâu?

    Ứng dụng CNTT vào chỗ nào là điều nói không khó. Đơn giản là vì ở đâu cũng có thể ứng dụng CNTT.

    Nhưng ứng dụng CNTT sao cho có hiệu quả cao mang tính toàn cục, tức có tầm ảnh hưởng chung cho cả đô thị thì lại rất khó. Hơn thế nữa, chúng ta hiểu về sự hiệu quả rất khác nhau, rất tùy tiện.

    Trước khi nói về ứng dụng CNTT vào đâu, chúng ta cần nói chút ít về khái niệm hiệu quả.

    Hiệu quả của ứng dụng CNTT thể hiện chủ yếu trên 3 khía cạnh sau đây:

    • Một là năng suất lao động được nâng lên và thường rất rõ rệt. Năng suất là đại lượng đo được, vì vậy nếu không xác định được sự gia tăng năng suất thì có thể tin là ứng dụng CNTT không hiệu quả.

    • Hai là chất lượng công việc được cải thiện. “Chất lượng công việc” ở đây được đánh giá theo nhiều cách khác nhau. Một cách đánh giá đơn giản, thông thường về chất lượng là thông qua chất lượng sản phẩm tạo ra do kết quả công việc được ứng dụng CNTT (như trong sản xuất công nghiệp). Tuy nhiên còn có cách đánh giá khác về chất lượng, đó là mức độ hài lòng của người được hưởng các kết quả của công việc được ứng dụng CNTT. Những người này có thể là người mua các sản phẩm, có thể là người dân được phục vụ bởi một thủ tục hành chính có ứng dụng CNTT, có thể là cấp lãnh đạo được các thuộc cấp tham mưu, báo cáo cho mình thông qua một hệ thống có CNTT tham gia...

    • Ba là tạo ra một nguồn thông tin được tích lũy, được tổ chức khoa học nhờ sử dụng CNTT vào nội dung công việc truyền thống.Nguồn lực này là sức mạnh mới mà CNTT mang lại, thể hiện dần nguyên lý: nắm được thông tin là có sức mạnh. Nó sẽ là cơ sở chủ yếu để làm phát sinh những phương thức làm việc mới (cho một nội dung truyền thống!), tạo ra bước nhảy về năng suất, về chất lượng đã đề cập ở trên. Khía cạnh hiệu quả thứ 3 này là điểm yếu rất rõ rệt của hầu hết các ứng dụng CNTT ở nước ta cho đến nay. Từ hiệu quả thu được này sẽ phát sinh những công việc mới mà hệ thống cũ, chưa có CNTT, không thể hình dung ra được.

    Để hiểu rõ về ba biểu hiện hiệu quả của ứng dụng CNTT nêu trên cần sự phân tích sâu hơn, minh họa bằng các ví dụ. Tuy nhiên do giới hạn bài viết, chúng tôi không thể đi quá xa. Hy vọng có dịp quay lại đề tài này.

    Đến đây ta xem như đã cùng nhau thống nhất về khái niệm hiệu quả của ứng dụng CNTT. Nói đến ứng dụng CNTT, chúng ta không bao giờ được quên tính hiệu quả.

    Trở lại câu hỏi: Với một đô thị quy mô trung bình đã đạt mức xuất phát thì trên phạm vi toàn cục nên hướng những ứng dụng CNTT vào đâu, làm sao cho hiệu quả?  Chúng tôi chỉ giới hạn bàn về “trên phạm vi toàn cục nên hướng những ứng dụng CNTT vào đâu” mà không trả lời vế “làm sao cho hiệu quả”. (Thật ra khi nêu những ý kiến về việc ứng dụng vào đâu chúng tôi đã có suy nghĩ về khả năng hiệu quả.)

    Nguyên tắc chủ yếu chỉ đạo sự lựa chọn các ứng dụng CNTT là:

    Đô thị không lớn, hạ tầng CNTT (số máy tính, số thuê bao Internet, số người làm CNTT chuyên nghiệp, số người biết sử dụng máy tính) dù chưa phải là mạnh cũng đã đủ để có thể tổ chức những ứng dụng trong quản lý mang tính toàn cục (tác động đến toàn đô thị). Tuy nhiên nên lựa chọn các ứng dụng có độ phức tạp thấp hoặc trung bình.

    Những hệ thống quản lý có độ phức tạp cao là những hệ thống phải quản lý hàng trăm ngàn đối tượng trở lên, hoặc quản lý số lượng đối tượng ít hơn nhưng sự biến động của chúng xảy ra thường xuyên.

    Hệ thống quản lý dân số là một ví dụ như vậy, nó hoàn toàn không thích hợp với trình độ của đô thị đang bàn.

    Hệ thống quản lý đất đô thị cũng cần xem xét thận trọng. Số lượng các thửa đất có thể dao động vào khoảng từ 50 - 70 ngàn đến vài trăm ngàn, tức là quá lớn.

    Nên nhớ rằng mọi hệ thống dù to hay nhỏ, dù biến động nhiều hay ít thì tổ chức một cuộc điều tra, lấy số liệu ban đầu, đưa vào máy tính lưu trữ nói chung đều có thể làm được. Tuy nhiên 90% các hệ thống hiện nay dừng tại đó. Chúng không phải là một hệ thống quản lý toàn cục có ứng dụng CNTT mà chỉ là một cuộc điều tra.

    Dưới đây là một số hệ thống toàn cục có thể xem xét triển khai:

    • Quản lý doanh nghiệp (khoảng vài ba ngàn đối tượng).

    • Các hệ thống quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị (đường xá, điện, nước, mạng truyền thông...). Mỗi hệ thống cũng khoảng vài ba ngàn đối tượng.

    • Một số hệ thống theo phương thức chính phủ điện tử. Trong lĩnh vực này lại phải chọn những hệ thống mà phạm vi tác động tương đối lớn, nhưng thủ tục đơn giản. Chẳng hạn hệ thống đối thoại công dân – chính quyền (thực chất là cách tiếp dân mới), hệ thống hướng dẫn hành chính cho nhân dân. Không nên chọn những hệ thống như “thuế on-line” vì quá phức tạp, “đăng ký doanh nghiệp on-line” vì sẽ quá thưa thớt.

    • Những việc như quản lý hồ sơ, giấy tờ, công văn trong các cơ quan hành chính: việc này cũng tương tự như các ứng dụng quản lý trong từng doanh nghiệp, hiển nhiên cần làm và phải làm tốt. Mặc dù nó́ không phải là các ứng dụng có tính toàn cục, nhưng việc liên kết toàn bộ hệ thống hành chính của đô thị thì lại là toàn cục. Tuy nhiên việc này rất phức tạp, chỉ có thể thực hiện với trình độ phát triển cao của CNTT.

    Thành phố xinh xắn này có thể phát triển công nghiệp CNTT ?

    Chúng ta không nói những trường hợp cá biệt tại một địa phương nhỏ có những người xuất sắc, có thể tổ chức những doanh nghiệp phần mềm, phần cứng rất thành công. Chúng ta bàn đến chiến lược chung về phát triển công nghiệp CNTT (CNpCNTT) của một đô thị quy mô trung bình.

    Rõ ràng muốn phát triển một ngành sản xuất thì phải có thị trường và có nhân lực. Cả hai yếu tố này ở đô thị đang bàn, thậm chí ở cả nước ta, đều còn quá nhỏ bé. Cơ may cho một đô thị trung bình phát triển CNpCNTT chỉ có thể là đầu tư nước ngoài và thị trường nước ngoài. Điều này có thể xảy ra với công nghiệp phần cứng nhưng hết sức khó xảy ra trong lĩnh vực phần mềm. Như vậy xây dựng ngành CNpCNTT ở một đô thị quy mô trung bình và đang ở vạch xuất phát về CNTT là việc rất ít tính khả thi, đặc biệt là CNpPM. Tuy nhiên, các địa phương đều không thể không chú trọng phát triển các đơn vị dịch vụ CNTT nói chung và đặc biệt là các đơn vị dịch vụ phần mềm.

    Chúng ta thử hình dung khối lượng công việc sau:

    • Duy trì hoạt động với nội dung hiệu quả cho 10.000 máy tính (mức xuất phát).

    • Đào tạo để có được 50.000 người biết sử dụng (giả thiết đã được khoảng 50% ở mức xuất phát, còn lại 25.000 người phải đào tạo) và cập nhật kiến thức cho họ (vì hôm nay biết dùng máy tính thì hôm sau đã có thể có rất nhiều cái mới không biết dùng!).

    • Hàng năm gia tăng khoảng 3.000 máy, với số người cần đào tạo thêm là khoảng 15.000 người.

    Nếu không có chừng 50 - 70  đơn vị CNTT chuyên nghiệp với khoảng 300 - 500 người và gia tăng hàng năm chừng 30% thì chẳng bao lâu CNTT của đô thị đang bàn đến sẽ tụt xuống dưới vạch xuất phát chứ đừng nói lao vào đường đua.

    Để phát triển được lực lượng dịch vụ quan trọng này, lãnh đạo đô thị phải rất quan tâm, vì sức hút của những vùng phát triển hơn đối với lực lượng này rất cao.

    Việc thiết lập các khu vực, toà nhà CNTT tập trung để tạo ra các điều kiện thuận lợi phát triển khối dịch vụ này là một biện pháp rất tốt. Tuy nhiên cần kiểm tra lại xem chúng ta đã ở mức xuất phát chưa. Nếu chưa thì biện pháp mạnh sẽ trở nên không có ý nghĩa.

    Lưu ý: tính chất tập trung của đô thị rất quan trọng trong các bàn bạc trên đây. Một tỉnh rộng lớn dù quy mô dân số và nhiều chỉ số phát triển có thể tương tự như đô thị đang bàn, nhưng chiến lược phát triển CNTT lại phải hoàn toàn khác.

    Nguyễn Trọng

    ID: B0308_18